26o BỆNH TẬT TRẺ EM
V. NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN TAY, CHÂN VÀ XƯƠNG
76. Gặm móng tay.
Thói quen cắn móng tay thường thấy ở lứa tuổi trẻ em đă tới
trường. Không phải chỉ có các cháu có tính nhút nhát, suy tư mới hay cắn móng
tay. Cả các em khỏe mạnh, tính nết vui vẻ cởi mở cũng có thói quen như vậy.
Không nên la mắng các cháu và nên t́m cách xóa bỏ hiện tượng
này bằng phương pháp tâm lư như chú ư xem cháu hay cắn móng tay lúc nào? Trước
khi đi ngủ, khi chơi một ḿnh ở nhà, hay ở trường? Hăy hỏi các cháu xem các cháu
có khó ngủ không? Cháu có điều ǵ không được vừa ư ở trường không? Cháu sợ hay
yêu mến các bạn, cô giáo?
Nếu bạn không quan tâm nhiều về hiện tượng này th́ một thời
gian sau, con bạn cũng sẽ tự động bỏ thói quen đó đi. Nhưng nếu bạn t́m được
nguyên nhân tạo ra thói quen này của cháu, bạn có thể giúp đỡ cháu sớm giải
quyết được một số vấn đề về tâm lư khiến tâm hồn cháu được thoải mái và vui vẻ
hơn trong cuộc sống với mọi người.
77. Vết đâm do: kẹp, kim, gai hồng, gai xương rồng.
Rửa sạch bằng thuốc sát trùng. Nếu trong ngón tay có mắc lại
gai hăy lấy nhíp gắp ra hoặc lể ra bằng một cái kim khâu đă hơ qua lửa để sát
trùng. Sau đó, nặn cho máu chảy ra rồi rửa bằng nước sát trùng một lần nữa.
Theo dơi vết thương trong những ngày sau. Nếu bị sưng tấy đỏ
và đau th́ cần khám bác sĩ.
78. Bị kẹp ngón tay.
Xương ngón tay của Bé c̣n rất yếu ớt, nên khi an ủi cháu bé
bị kẹp ngón tay phải chú ư thêm chỗ bị kẹp có gờ lên một cách bất thường không?
Thường th́ chỗ đó chỉ bị tím và sưng phồng.
Nếu bị gồ hay có đoạn ngón tay bị lệch, phải nghĩ tới các
trường hợp giập xương hoặc trật khớp ngón, cần phải đưa ngay tới bác sĩ.
79. ĐỨT TAY, CHÂN.
NếU VếT ĐứT KHÔNG SÂU - Rửa vết
thương bằng xà pḥng và nước sạch. Dùng gạc (tránh dùng bông) để rửa sạch đất,
cát rồi bôi thuốc sát trùng và băng lại.
Dù đă buộc băng kỹ, cũng không để cháu bé chơi dưới đất hay
trên cát v́ đất cát có thể lọt qua băng vào vết thương.
Thay băng mỗi ngày. Một vết thương khi khỏi sẽ khô, sạch và
không c̣n đau nữa. Nếu vết thương đỏ, sưng tấy, có mủ cần đưa đi bác SĨ.
ĐứT NGóN TAY - Khi buộc băng ở ngón
tay, không được buộc chặt quá. Cần phải để máu lưu thông trong ngón tay và CÓ
KHÔNG KHÍ TRÊN VẾT THƯƠNG.
TRáNH NHữNG VếT SẹO KéM THẩM Mỹ -
Những vết thương sâu trên bàn tay, cánh tay, ở mặt, ở đùi sau khi khỏi có thể để
lại những vết sẹo không đẹp mắt. Bởi vậy, nên tới các bác sĩ để khâu vết thương
ngay từ đầu. Không nên để vết thương tự khỏi.
VếT THƯƠNG CHảY NHIềU MáU - Coi mục
XUẤT HUYẾT (HEMORRAGIE).
80. Găy xương, bong gân và trật khớp.
Khi bị ngă, bị va chạm mạnh hoặc bị đánh, có thể xảy ra 3
trường hợp: xương bị găy hoặc những sợi gân ở các khớp xương bị căng ra bất chợt
và bị tổn thương; hoặc các khớp xương bị trật ra khỏi vị trí b́nh thường của
chúng.
Dù cháu bị găy xương, bong gân hay trật khớp th́ cách săn sóc
cháu cũng có những điểm giống nhau như sau:
- Người săn sóc cháu phải b́nh tĩnh để khỏi làm cháu thêm lo
sợ.
- Tránh không nên xê dịch cháu, trừ trường hợp bắt buộc như
cháu bị ngă ở giữa đường.
- Hỏi cháu xem cháu đau ở đâu: chỉ quan sát thôi, không nên
sờ vào chỗ đau.
- Nếu có điều kiện, cố định chỗ đau và nhờ người báo cho bác
sĩ hoặc cơ quan y tế, cho cơ quan công an gần nhất.
I. TRường HợP GăY XươNG: ở
ĐÙI, CH?N, MẮT CÁ CH?N
Cháu bé bị ngă khi chạy hoặc bị xe đụng mạnh, cháu cảm thấy
đau chân và không đứng lên được. Quan sát chỗ Bé kêu đau, dưới lớp quần áo chúng
ta cũng có thể thấy chỗ đó gồ lên. Để xác định rơ xem có PHẢI BÉ BỊ
GẪY X?ƠNG HAY không, chúng ta có
thể tháo chỉ hoặc cắt quần áo của Bé để coi cho rơ. Sở dĩ chúng ta không cởi
quần áo Bé như lúc b́nh thường v́ cần phải tránh: KHÓNG ĐƯỢC
ĐỤNG CHẠM
HOẶC N?NG CHỖ ĐAU Lên.
Nếu Bé chịu nằm yên, có thể dùng gối, chăn để chèn hoặc độn
dưới chỗ đau cho cháu.
Nếu cháu không chịu nằm yên, hay cựa quậy hoặc cần phải di
CHUYỂN CHÁU, CẦN CỐ ĐỊNH CHỖ
đau vào 1 hoặc 2 cái nẹp (có thể dùng bất cứ một vặt ǵ dài, bằng gỗ hoặc chất
liệu khác như cái cán chổi, một tấm ván nhỏ v.v...).
GăY Xương Đ̣N GáNH, VAI, CáNH TAY, CẳNG TAY, BàN TAY
Nếu khi ngă, cháu bé đỡ bằng tay, khuỷu tay hoặc trong khi
chơi đùa, cháu bi vặn chéo cánh tay, đều có thể đưa tới những trường hợp găy
xương ở vùng vai, cánh tay hoặc bàn tay. Khi bị đau, cháu bé sẽ tự đỡ LẤY CÁNH
TAY BỊ THƯƠNG Ở MỘT vị trí
thích hợp nhất để đỡ đau. Chúng ta nên giúp cháu bằng cách buộc một khăn đeo
quanh cổ để đỡ lấy cánh tay trong trường hợp cháu bị THƯƠNG Ở
CÁNH TAY, CỔ TAY HAY NGÓN TAY.
KHôNG Được Thử CHOTAY Bé Cử ĐộNG HOặC NâNG CHỗ GăY L?
Nếu phần xương găy chọc thủng da, hăy cắt bỏ phần quần áo
đụng tới xương, đắp lên chỗ đó một miếng gạc mềm và dùng băng dính (BĂNG KEO)
NHẸ NHÀNG DÁN LẠI.
II. TRƯờNG HợP Bị THƯƠNg ở ĐầU, ở LƯNG
Khi cháu bị ngă từ trên ghế xuống đất hoặc ngồi ở
GHẾ TRƯỚC (DÙ NGỒI TRÊN ĐÙI NGƯỜI lớn) khi xe ô tô
ngừng đột ngột hoặc bị tai nạn, nên bị văng đập vào khung xe hoặc phần kính chắn
phía trước. 3 trường hợp có thể xảy ra :
* Cháu bé vẫn tỉnh, có thể trả lời người hỏi chuyện: không
được xoay người cháu, giữ cho đầu cháu bé thẳng với chiều của thân NGƯỜI.
KHÔNG ĐƯỢC
ĐỂ ĐẦU CÚI XUỐNG HOẶC
QUAY SANG MỘT B?: CHÁU CÓ THỂ BỊ
CHẤN TH?ƠNG SỌ NĂO HOẶC
CỘT SỐNG.
* Cháu bé bị ngất, nhưng vẫn c̣n thở: có thể đă bị vỡ sọ năo
(nhất là có một ít máu chảy ra mũi hoặc lỗ tai). Đặt cháu nằm nghiêng trên gối
đầu hơi thấp hơn phía chân. Dùng nệm độn cho đầu không động đậy.
* Cháu bé bị ngất, không c̣n thở nữa: Phải làm
H? HẤP NH?N TẠO NGAY VÀ ĐƯA ĐI CẤP
cứu.
Nếu cần chuyển dịch cháu, một người giữ đầu cho thẳng, một
người kéo chân nhè nhẹ. Ngoài phần sọ, cháu c̣n có thể bị thương ở
SƯỜN, Ở
hàm v.v... nữa.
81. HÔNG DỄ TRẬT KHỚP.
ở một số gia đ́nh, thường thấy
CÓ T̀NH TRẠNG BỊ TRẬT KHỚP HÁNG BẨM SINH, NHẤT LÀ Ở
các cháu gái. Nguyên nhân có thể là do khi đẻ, thai ra
trong tư thế ngược, mông ra trước.
Khi mới sinh, phần đầu xương đùi của các cháu chưa được h́nh
thành đầy đủ. Trong năm đầu tiên, phần xương này mới dần dần hoàn chỉnh và khớp
với xương chậu. Chỗ khớp này có thể phẳng quá hoặc nghiêng quá làm cho xương đùi
nhô ra ngoài tạo thành dáng dị dạng ở
MỘT BÊN HAY CẢ HAI BÊN HÔNG.
Muốn tránh hiện tượng này, người ta phải chữa cho Bé từ khi
mới sinh bằng cách độn một vật giữa 2 chân để cháu bé phải nằm dạng chân, hoặc
mặc cho cháu một loại quần đặc biệt gọi là "quần Pawlick". Thời gian chữa như
vậy tùy thuộc vào cấu tạo đầu xương của từng cháu.
T́nh trạng khớp xương hông của Bé gái có thể bị dị dạng phải
được phát hiện sớm khi cháu bé chưa quá 4 tháng tuổi bằng phương pháp siêu âm.
Nếu không được chữa ngay từ đầu, trạng thái trật khớp xương
hông sẽ làm các cháu đi đứng khó khăn. Khi các khớp xương đă hoàn chỉnh, muốn
chữa sẽ mất nhiều thời gian và nhiều trường hợp phải phẫu thuật.
82. Viêm khớp cấp.
Bệnh viêm khớp cấp có thể do vi trùng hoặc virút. Nhiều chứng
bệnh kèm theo hiện tượng đau khớp như bệnh cúm chẳng hạn.
Dạng viêm khớp nặng nhất do vi trùng gáy ra, làm cho các chỗ
khớp có mủ, có khi tác dụng tới cả xương.
Viêm khớp nhẹ thường ở đầu gối, khuỷu tay. Các chỗ viêm bị
tấy đỏ, sờ vào thấy nóng và đau, mỗi khi cử động cũng thấy đau. Bởi vậy, các
cháu bị bệnh, thường cứng chân, cứng tay. Không phải là các cháu bị liệt mà chỉ
v́ các cháu không muốn cử động. Trường hợp viêm sâu, như ở khớp háng chẳng hạn,
rất khó xác định bệnh. Cần cho các cháu nằm viện để bác sĩ theo dơi và làm các
xét nghiệm: soi X-quang, hút mủ ra để xét nghiệm và điều trị một thời gian dài
bằng thuốc kháng sinh.
83. Đi khập khiễng (cà nhắc).
Sau khi bị ngă, hoặc va chạm mạnh cháu bé bị đi khập khiễng.
Nếu sau 1 - 2 hôm cháu vẫn không khỏi th́ cần đưa cháu đi khám bệnh v́ có thể
cháu đă bị thương tổn phần xương hoặc khớp háng, đầu gối hay chân.
Để xác định đúng bệnh, bác sĩ phải chiếu X-quang để kiểm tra
các xương háng và xương chân.
84. Chân ṿng kiềng.
Nếu chân các cháu bé, trong ṿng 6 tháng đầu, bị cong cũng
KHÔNG CÓ G̀ ĐÁNG LO NGẠI. V̀ Ở
thế nằm trong tử cung, chân cháu phải như thế mới vừa hợp với "khuôn". Sau khi
ra đời đôi chân cháu sẽ thẳng dần, nhất là trong THỜI GIAN CHÁU TẬP ĐI
TUổI TậP ĐI - Bệnh c̣i xương là một
trong những nguyên nhân của hiện tượng chân ṿng kiềng. Tuy vậy, c̣n một số
nguyên nhân khác như: các cháu mập mạp quá nặng đối với đôi chân hoặc cho cháu
tập đi sớm quá. Có thể phân biệt 2 trường hợp sau:
- Xương chân cong v́ bệnh c̣i xương (thiếu canxi và vitamin
D) th́ điểm cong nhất nằm ở dưới, về phía cẳng chân.
- Xương tạm cong lúc sơ sinh làm chân cong ở đoạn đầu gối.
Bởi v́ xương chỉ "tạm cong" nên không cần cho các cháu đi
giầy có đế đặc biệt. Nên tránh, không để các cháu đi lâu.
Chỉ có trường hợp chân cong một cách bất thường mới cần tới
bác sĩ chuyên khoa chỉnh h́nh để chữa trị.
85. Dị tật chân bẩm sinh - chân vẹo.
Nếu được phát hiện sớm, trong những ngày đầu sau khi sinh,
th́ phần lớn các trường hợp dị tật chân đều có thể chữa trị được.
Dị tật chân là do ảnh hưởng của thế nằm không đúng của thai
nhi trong tử cung mẹ, mà hiện nay người ta chưa biết v́ lư do ǵ.
Dị tật hay thấy nhất là phần trên của bàn chân quặt vào
trong. Những dị tật khác như: bàn chân vẹo vào trong, vẹo ra ngoài, vẹo gót cũng
không đáng lo lắm nếu các khớp vẫn mềm mại cử động được.
Chỉ khó chữa trị nếu những chỗ dị tật bị cứng, có hiện tượng
co cơ hoặc trật khớp.
Tuy vậy, với cách chữa trị hiện đại, người ta có thể chữa
được đa số trường hợp, chỉ phải mất công chữa trị và theo dơi hàng ngày, trong
thời gian dài có khi tới 1 - 2 năm liền.
86. Chân quặt vào trong, hay quẹo ra ngoài.
Khi đứa bé mới bắt đầu tập đi, đôi bàn chân có xu hướng quay
vào phía trong. Như vậy là b́nh thường, ít cháu có bàn chân hướng ra phía ngoài
ngay.
Người lớn chỉ cần chú ư nếu nguyên nhân của hiện tượng trên
là do các khớp ở đầu gối hay ở khớp xương hông gây nên. Nếu vậy, phải nói với
bác sĩ.
Không bao giờ được vội vàng tự ư cho các cháu đi những đới
giầy đặc biệt để điều chỉnh dáng đi hoặc chỉnh h́nh xương mà không có ư kiến của
bác sĩ chuyên khoa.
87. Bàn chân bẹt.
Nhiều bố mẹ lo con ḿnh có bàn chân bẹt: khi các cháu đứng,
nhất là khi các cháu bụ bẫm toàn bộ gan bàn chân đều tiếp xúc với đất không thấy
phần hơm ở giữa gan bàn chân, tuy rằng lúc nằm, vẫn nh́n thấy bàn chân của cháu
có chỗ hơm b́nh thường.
Thật ra, tới lúc các cháu hơi lớn, phần lơm này mới rơ. Bởi
vậy không nên lo quá sớm, và không được cho các cháu dùng những loại giầy ǵ đặc
biệt, nếu không có ư kiến của bác sĩ.
Hăy cho các cháu tập đi chân đất để các bắp thịt bàn chân
được làm việc. Đôi bàn chân sẽ quen với động tác bám vào đất và vào những địa
h́nh mấp mô khác nhau.
Hăy bày ra các tṛ chơi luyện tập như lấy một vật, chẳng hạn
cái bút ch́, ở dưới đất bằng ngón chân cái và ngón thứ 2. Tập cho các cháu đi
kiễng chân. Khi các cháu đă lớn, tập cho các cháu nhảy dây, múa nhịp điệu. Đạp
xe đạp 3 bánh cũng là phương pháp tập luyện để các khớp xương chân và đoạn xương
dài của cẳng chân hoạt động.
88. Đầu gối đụng nhau.
Khi đứng, nh́n thấy rơ chân cháu bé cong, hai đầu gối chạm
vào nhau. Hiện tượng này thường kèm theo đôi bàn chân bẹt, đều tại các cơ bắp và
gân chứ không phải tại xương. Bởi vậy đây không phải là một tật cho tới lớn, mà
chỉ từ 2 tới 5 tuổi, là cháu bé sẽ có đôi chân thẳng b́nh thường. Nếu sức khỏe
cháu bé tốt th́ người lớn không có ǵ đáng lo ngại: sở dĩ tạm thời cháu có đôi
chân như vậy là v́ trọng lượng lúc này của phần thân cháu hơi nặng đối với đôi
chân mà thôi.
Người lớn chỉ cần chú ư không để cháu bé đi những quăng đường
xa. Hăy mua cho cháu một chiếc xe đạp 3 bánh, cho cháu tập đạp để đôi chân khỏe
và cứng cát hơn, có thể mang được dễ dàng tấm thân của cháu.
Để theo dơi được sự chuyển biến của đôi chân theo thời gian,
bạn hăy để cháu đứng thẳng và đo khoảng cách giữa hai mắt cá chân, 3 tháng một
lần. Bạn sẽ thấy số đo càng ngày càng ngắn lại.
Tuy vậy, nếu khi 2 đầu gối đụng vào nhau mà khoảng cách giữa
2 chân từ 8 tới 10 cm th́ cũng nên trao đổi ư kiến với bác sĩ chuyên về khoa
chỉnh h́nh trẻ em.
89. Bệnh c̣i xương.
Nguyên nhân của bệnh c̣i xương là do thiếu vitamin D.
ÁNH SÁNG MẶT TRỜI CÓ VAI TR̉ QUAN
TRỌNG TRONG VIỆC CHẾ TẠO VITAMIN D
CHO cơ thể, loại vitamin rất cần thiết cho việc hấp thụ chất
Can-xi. Trẻ thiếu Can-xi là thiếu nguyên liệu chính cho việc chế tạo các tế bào
xương. Ở CHÂU ?U, CÁC TRẺ
SINH VÀO MÙA THU HAY bị c̣i xương v́ 6 tháng đầu không có ánh nắng mặt trời.
Chúng ta nên nhớ rằng, kính ngăn cản không cho các tia cực tím của mặt trời đi
qua. Bởi vậy, nếu cho trẻ nằm sau cửa kính để tắm nắng th́ cũng bằng không.
Trẻ em bị bệnh c̣i xương, tùy theo lứa tuổi mà có các triệu
chứng như sau: xương sọ mềm, xương cổ tay, cổ chân to, bẹt; thóp lâu không đóng
lại; chậm biết ngồi, biết đi; chậm mọc răng; hay bị chân ṿng kiềng, méo cột
sống, xương lồng ngực và xương hông. Thành phần máu của cháu bé có lượng Can-xi
dưới mức b́nh thường có thể dẫn tới chứng co giật.
Để đề pḥng chứng c̣i xương, bác sĩ thường cho các cháu UỐNG
THUỐC CÓ TỪ 1000 - 1500 ĐƠN VỊ VITAMIN D
mỗi ngày liền trong hai năm đầu. Các cháu bú sữa mẹ cũng cần
phải uống thêm vitamin D.
Các cháu có mầu da sẫm dễ bị c̣i xương hơn các cháu khác v́
các chất mầu ở da có tác dụng cản các tia tử ngoại của mặt trời. Bởi vậy, các
cháu này càng cần phải được chú ư săn sóc nhiều hơn
90. Vẹo xương sống.
Xương sống có thể bị vẹo với những kiểu dáng khác nhau làm
cho lưng cong ở phần trên, ở phần dưới hoặc vẹo theo chiều ngang. Những dáng bất
thường như vậy có thể phối hợp với nhau như vừa bị cong vừa bị vẹo.
VớI CáC TRẻ EM SƠ SINH - Lưng trẻ
sơ sinh, trong mấy tháng đầu, thường cong. Trẻ càng lớn, lưng càng thẳng hơn cho
tới khi đến tuổi biết ngồi.
Bởi vậy, ở thời gian xương sống c̣n yếu. Khi để Bé ở tư thế
ngồi phải có gối hoặc vật ǵ dùng để tựa lưng v́ ở độ tuổi này cột XƯƠNG SỐNG
CỦA BÉ RẤT DỄ BỊ XIÊU VẸO.
VớI CáC TRẻ LớN HƠN - Trẻ em từ độ
tuổi biết đi cho tới năm lên 2, lên 3 hay ưỡn cột sống lưng ra phía trước. DÁNG
ĐI NÀY SẼ MẤT DẦN KHI CÁC CHÁU LỚN LÊN.
ở độ tuổi này, nếu thấy các cháu bị
lệch vai: khi đứng thẳng vai này thấp hơn vai kia th́ nguyên nhân là do cột
xương sống không thẳng, cong về bên phải hay bên trái hoặc có thể đă bị gù ở một
bên nào đó.
Nếu khi cho các cháu hơi cúi người về đằng trước mà các
khuyết tập trên không c̣n nữa th́ chứng vẹo xương trên chỉ là do phải bổ sung sự
cao thấp không bằng nhau tạm thời của hai chi dưới: các trường hợp này phần lớn
có thể chữa trị bằng phương pháp tập các động tác thể dục chọn lọc, hoặc chơi
thể thao.
Nhiều chứng vẹo cột sống có nguyên nhân từ các bệnh của hệ
thần kinh hoặc của các cơ bắp. Nhưng nhiều khi cả những trẻ khỏe mạnh cũng bị -
nhất là các cháu bé gái - mà không t́m thấy nguyên nhân rơ rệt.
Nói chung, hiện tượng vẹo cột sống của các cháu, cần được chú
ư theo dơi cẩn thận để xem nó tiến triển ra sao. Chứng vẹo cột sống đă ở thế ổn
định hay có xu thế tiến triển nặng hơn. Bởi vậy, cần phải cho các cháu tới các
bệnh viện chuyên khoa xương mỗi năm 2 lần hay 1 lần, chụp X-quang xương, và so
sánh các h́nh chụp để nhận định xương các cháu phát triển thế nào.
Sự phát triển không b́nh thường của cột sống có mức độ nhẹ ở
trẻ em, có thể không nhận thấy trong những năm đầu. Hiện tượng này cần phải được
đặc biệt chú ư khi các cháu tới độ tuổi từ 11 tới 15, là giai đoạn dậy th́ cơ
thể phát triển nhiều, nhất là đối với các cháu gái.
91. Tật nứt đốt sống
Tật nứt đốt sống là một dị tật bẩm sinh của đốt sống. Khi đứa
trẻ đă tới ngày ra đời mà đốt sống vẫn chưa h́nh thành được hoàn hảo, c̣n bị hở
phía sau khiến cho các cấu trúc thần kinh của tủy sống có thể lọt ra ngoài được.
Hiện tượng này thường xảy ra ở
ĐOẠN CUỐI SỐNG LƯNG, VÙNG THẮT LƯNG VÀ XƯƠNG CÙNG, ÍT KHI Ở
ĐOẠN lưng trên hoặc vùng cổ.
Nếu chỉ có hiện tượng hở xương thôi th́ có khi chẳng hệ TRỌNG
G̀. CÓ KHI CHỈ CÓ phần màng
bọc tủy sống lọt được ra ngoài, làm thành một khối nằm dưới da gọi là "thoát vị
màng năo. Nhưng nghiêm trọng nhất là trường hợp cả tủy sống và các rễ dây thần
kinh cũng bị thoát vị ra ngoài rồi bị viêm, gây liệt chân, không tự chủ được
việc đi tiêu, tiểu, nhiều khi kèm thêm cả chứng tràn dịch năo.
Đây là một dị tật rất nặng, có các hậu quả nghiêm trọng đến
mức ngay trong 24 giờ đầu tiên sau khi đứa trẻ ra đời, bác sĩ phải đặt vấn đề
với bố mẹ đứa trẻ và các chuyên gia nhi khoa và phẫu thuật thần kinh xem có nên
điều trị hay không nên điều trị ǵ cả.
Hiện nay, người ta chẩn đoán trước được dị tật này ở thai nhi
bằng phương pháp siêu âm, ngay từ tuần lễ thứ 16 tới 20 của thời gian sản phụ
mang thai.
MỤC LỤC
YKHOANET - Website Y Khoa Việt Nam
|