www YKHOANET

Y HỌC PHỔ THÔNG

Cấp cứu

Sức khỏe trẻ em

Sức khỏe người cao tuổi

Sức khỏe phụ nữ

Cao huyết áp

Bệnh thường gặp

Khớp

Huyết học

Tai mũi họng

Tâm thần

Răng hàm mặt

Bệnh mắt

Pháp y

Thẩm mỹ

Kỹ thuật y khoa

Da liễu

Hỏi đáp sức khỏe

 

 

CHUYÊN ĐỀ GIỚI TÍNH

Nghiên cứu t́nh dục học

Thắc mắc biết hỏi ai

Giới tính

Sách giáo dục giới tính

Sức khỏe t́nh dục

Tṛ chuyện về t́nh dục

HIV/AIDS

Bệnh của cơ quan sinh dục


26o BỆNH TẬT TRẺ EM


VII. NHỮNG VẤN ĐẾ LIÊN QUAN TỚI DA

106. Vết trên da trẻ mới sinh.

Khi mới ra đời, da trẻ em thường có những vết có màu: vết màu đỏ thẫm như màu rượu vang, có nhiều chấm nhỏ hoặc từng mảng ở GÁY, TRÁN, DA ĐẦU... DO CÁC MẠCH MÁU nhỏ (mao mạch) dưới da bị giăn nở. Những vết này sẽ hết dần dần. Có CHÁU TỚI 1 2 NĂM MỚI HẾT: ĐÓ LÀ những vết bớt, nết ruồi hay vết chàm. Nốt ruồi to hoặc nhỏ, có thể xuất HIỆN Ở MỌI NƠI TRÊN CƠ thể. Cần hỏi bác sĩ chuyên khoa da, v́ việc chữa trị tùy trường hợp có NHIỀU HAY ÍT, Ở MỖI CHÁU MỖI KHÁC. (NAEVUS).

VếT CHàM hay thấy ở lưng dưới. Những vết chàm này cũng sẽ hết dần khi các cháu lớn lên.

107. Vết bớt hay chàm đỏ.

Da các cháu mới sinh có thể có các chấm hoặc mảng màu đỏ sẫm: đó là các vết bớt c̣n gọi là chàm đỏ. Bớt do sự ph́ đại của các mạch máu nhỏ dưới da có dạng phẳng như da, có dạng nổi trên da. Những vết chấm hay thấy ở trán, cổ, gáy, chân tóc trẻ sơ sinh có thể tự mất đi sau vài tháng tuổi, có khi phải sau một vài năm.

Tuy rằng một số vết bớt khó coi, làm giảm sự xinh xắn của các cháu, nhưng bác sĩ nào cũng khuyên các bà mẹ phải kiên nhẫn, chờ đợi, tránh không nên can thiệp tới bằng bất cứ biện pháp ǵ.

Nếu vết bớt ngày càng lan rộng và có hiện tượng chảy máu th́ nên tới bác sĩ chuyên khoa về da để hỏi cách chữa trị. Ngày nay, người ta có thể dùng tia laze để chữa trị hiện tượng này.

108. Hiện tượng tím tái của trẻ sơ sinh.

Da của Bé có thể có các vùng tím hay xanh. ÍT TH̀ Ở ĐẦU CÁC NGÓN TAY HOẶC MÔI: hiện tượng này chứng tỏ máu thiếu ôxy v́ sự hô hấp hoặc sự tuần hoàn (tim) của cháu chưa tốt. Nếu hiện tượng này chỉ có rất ít th́ do lạnh, làm các mạch máu bị co lại.

Nếu hiện tượng tím tái có từ khi cháu mới sinh và cứ duy tŕ măi không thấy đỡ, th́ có thể phải t́m hiểu về các bệnh tim bẩm sinh.

Nếu hiện tượng trên xảy ra bất chợt và nghiêm trọng th́ có thể do các nguyên nhân: ngạt thở v́ vật lạ, đau họng, viêm đường hô hấp...

109. Chứng vàng da của trẻ sơ sinh.

Sau khi sinh được mấy ngày, nhiều cháu bé có mầu da mỗi ngày một vàng thêm: đó là chứng vàng da của trẻ sơ sinh, một sự cố không quan trọng mà người ta biết rơ nguyên nhân.

Khi ra đời, đứa bé mang theo trong người một số hồng huyết cầu dự trữ. Hồng huyết cầu là những phần tử trong máu có nhiệm vụ nhận ôxy từ phổi mang tới mọi nơi trong cơ thể, và luôn luôn được thay thế bởi những lớp mới. Trong cơ thể đa số trẻ em, việc loại bỏ các hồng huyết cầu già ở lá lách và ở gan được tiến hành b́nh thường. Nhưng, một số ít các cháu có bộ gan c̣n non yếu chưa làm được đầy đủ nhiệm vụ này khiến một số muối mật sinh ra trong quá tŕnh hủy diệt hồng huyết cầu bị tích tụ ở máu làm cho da các cháu có màu vàng.

Những hiện tượng trên có thể sẽ hết trong ṿng mấy ngày sau, khi các cơ quan trong cơ thể cháu bé quen dần với công việc.

Một số các cháu khác có thể bị dị tật bẩm sinh ở các đường ống dẫn mật khiến những chất muốí mật đă được gan biến đổi và thải ra không xuống được ruột làm cho phân có mầu nhợt hoặc mầu trắng.

110. RÔM SẢY.

vùng cổ và lưng các cháu bé thường có những nốt mẩn đỏ, do mồ hôi gây ra. Các nốt này sẽ chóng lặn hết nếu giữ ǵn cho da các cháu sạch và khô.

111. Da: ngứa ngáy, mẩn đỏ.

Da trẻ em, nhất là cháu sơ sinh rất mỏng nên dễ bị tổn thương v́ các nguyên nhân gây ra từ phía ngoài cũng như từ bên trong cơ thể. Theo năm tháng, lớp da sẽ đỡ mỏng manh hơn, nhưng vẫn là một lớp mô nhạy cảm dễ bị phát ban, dị ứng hoặc là nơi biểu hiện triệu chứng của một số bệnh như sởi, lên đậu... Một số bệnh khó xác định và khó chữa, nên các bà mẹ săn sóc cháu nên nhận xét để mô tả được rơ ràng với bác sĩ.

LOạI DA ĐặC BIệT NHạY CảM - Có nhiều Bé có loại da đặc biệt nhạy cảm tới mức chỉ sờ lên da Bé cũng làm làn da ửng đỏ một lát. Do đó việc cọ sát da cháu bằng miếng vải, sức một ít nước thơm hay dầu thơm, tắm cho cháu bằng xà pḥng có hóa chất thơm, cháu bị toát mồ hôi, nước tắm có pha ít nước hoa Cologné v.v... cũng làm da cháu bé phản ứng.

Cổ, cổ tay, cổ chân, ṿng bụng là nơi dễ bị kích thích nhất. Muốn làm cho da Bé dày dặn hơn, nên cho Bé đi chơi ở ngoài trời luôn, cho Bé tắm nắng nhưng hăy coi chừng và có giới hạn để tránh bị cháy nắng hay say nắng.

- MẨN ĐỎ VÙNG MÔNG - Mông Bé là điểm hay có mồ hôi, bị đẫm nước tiểu khi cháu tè dầm không được thay tă lót ngay, nên hay bị mẩn đỏ: da đỏ, đùi đỏ, đỏ ở rănh giữa 2 mông, ở những nếp nhăn. Những nốt đỏ hơi phồng lên và lơm ở giữa, đôi khi cũng xuất hiện khi Bé mọc răng, hoặc trên toàn bộ lớp da tiếp xúc với ghế khi Bé ngồi.

ĐỂ BÉ KHỎI MẨN ĐỎ N?: thay tă lót luôn, lau ghế luôn, dùng pommát sát trùng bôi lên chỗ mẩn đỏ. Khăn trải giường (nếu dùng cho Bé) cũng nên thay luôn, ghế Bé ngồi thỉnh thoảng nên mang phơi nắng.

Sau khi tắm cho Bé nên lau thật khô hay sấy cho Bé bằng cái sấy tóc, nhưng phải hết sức cẩn thận không làm Bé bỏng.

Nếu chỗ mẩn đỏ cả tuần lễ chưa khỏi th́ nên hỏi bác sĩ, không cần thay đổi chế độ ăn của Bé .

- MẨN ĐỎCỔ, NÁCH VÀ SAU TAI - NHỮNG chỗ mẩn đỏ bóng và có nước. Bạn hăy chú ư coi cổ áo của Bé có chật quá không, không năng tắm rửa và mồ hôi là nguyên nhân của những chỗ mẩn đỏ này.

Hăy thay quần áo tă lót cho cháu sau khi tắm kỹ bằng loại xà pḥng có nhiều tính chua (axít), rồi dùng dung dịch sát trùng loại éosine 1% bôi cho cháu.

Chỉ nên mặc cho cháu những quần áo bằng vải, từ các chất liệu thiên nhiên như bông, len chứ không nên dùng các chất liệu tổng hợp.

- BÉ CÓ NHỮNG CHẤM ĐỎ VÀ NHỮNG MụN NHỏ TRắNG CHảY Nước, ở gáy, lưng, đôi khi ở ṿng quanh bụng chỗ vẫn quấn khăn quanh rốn làm cháu luôn cựa quậy, ngủ không yên giấc: tránh đắp cho Bé nhiều chăn quá hoặc đặt Bé trong pḥng nóng quá. Tắm cho Bé bằng xà pḥng có tính axít hoặc nước pha chanh (để có tính axít). Cho cháu tấm nắng vừa phải, mỗi ngày.

Nếu da cháu vẫn chảy nước, cần đi khám bác sĩ.

- CầN NóI Ǵ VớI BáC Sĩ ? Nếu bạn liên lạc với bác sĩ qua điện thoại, nên nói ngay cháu bé mấy tháng, mấy tuổi? V́ có một số bệnh chỉ xuất hiện ở một độ tuổi nào đó. Hăy cho bác sĩ biết thêm: cháu bé có sốt không? Chỗ da chảy nước thế nào? Bé đă uống THUỐC G̀ CHƯA?

- SốT - Lấy nhiệt độ cho Bé. Thường th́ các bệnh ngoài da không làm trẻ sốt. Nếu những nốt mẩn ngoài da lại kèm theo sốt th́ Bé đă mắc bệnh như: sởi, nhiễm khuẩn,... Biết thân nhiệt của bé khi sốt, bác sĩ sẽ dễ chẩn đoán bệnh.

Những nốt mẩn đỏ có thể mất đi sau vài giờ, như ở bệnh sởi. Bởi vậy, trước khi nói chuyện với bác sĩ, bạn cần phải nhớ lại những điều sau

- Những nốt đỏ mọc ở đâu? khắp người Bé hay chỉ có ở mông? ở những vết nhăn trên đùi, tay? ở cổ, trên mặt, ở lông mày, quanh miệng, sau tai? Những nốt mẩn bắt đầu ở đâu trước tiên ? Lan ra tới đâu? N TAY VÀO CÓ HẾT ĐỎ KHÔNG?

- Cỡ to nhỏ của nốt mẩn: bằng đầu mũi kim hoặc lớn hơn?

- Mầu: đỏ, đỏ tím hay đỏ sẫm... ?

- Những nốt đỏ rời nhau hay từng mảng?

- Nốt đỏ có phồng lên, có vảy không ? Bé có găi không?

- Sờ vào những nốt đó thấy nhẵn hay ráp? Có chỗ nào mềm hoặc cứng không ?

Bạn có thể nghĩ rằng những nhận xét trên không quan trọng, nhưng chính chúng lại giúp cho bác sĩ xác định được bệnh v́ mỗi bệnh có những điểm riêng chỉ khác nhau một vài chi tiết nhỏ.

112. Chứng nổi mụn ngứa.

Cháu bé không ngủ được v́ ngứa, găi. Do vậy, đôi khi cháu không chịu ăn, đi tướt hoặc ngược lại đi táo. Trên da cháu, xuất hiện những nốt phồng nhỏ đường kính chừng lmm, màu đỏ, mọc khắp người trừ phần da đầu: đó là chứng mụn ngứa. Khi phát triển, mầu các nốt mụn ngứa thành đỏ thẫm, đôi khi có vẩy vàng, cứng, sờ vào thấy nháp tay. Khoảng từ 8 tới 10 ngày sau mụn ngứa lặn để lại những vết đỏ, rồi vết này cũng nhạt dần.

Các cháu nhỏ thường bị nổi mụn ngứa nhiều lần, cách quăng nhau vài ngày hay hơn.

Chứng mụn ngứa có thể v́ nguyên nhân tiêu hóa không tốt hoặc dị ứng do bị côn trùng đốt.

Với các trẻ sơ sinh, không cần thay đổi chế độ ăn nếu không có ư kiến của bác sĩ. Những chỗ ngứa nhiều, có thể bôi thuốc đỏ Mercurochrome hoặc cồn iốt 1%. Nếu chỗ ngứa bị nhiễm trùng hay sây sát nên dùng băng dính che lên trên.

Các bà mẹ nên kiên nhẫn và yên tâm; thế nào rồi các mụn ngứa cũng sẽ lặn hết.

Trong trường hợp cháu bị nhiều quá, bác sĩ thường cho các cháu uống thuốc cho đỡ ngứa và nếu cần, chuyển qua bác sĩ chuyên bệnh ngoài da và dị ứng.

113. Dị ứng.

Dị ứng nói chung là phản ứng của cơ thể chống lại sự xâm nhập của các "chất lạ" vào cơ thể, bằng cách sinh ra các kháng thể. Những chất lạ c̣n được gọi là các kháng nguyên xâm nhập vào cơ thể qua da, đường hô hấp (mũi, khí quản, phổi) và đường tiêu hóa. Dị ứng da thể hiện ra ngoài theo các dạng eczema, mẩn đỏ, phù da, mụn loét.

Những chất lạ gây dị ứng da bao gồm các hóa chất như phấn, kem bôi da để trang điểm, vải mặc tổng hợp, các thuốc pom-mát v.v..., các dược phẩm uống hoặc tiêm chích. Một số thực phẩm không thích ứng với từng người như thịt ḅ, tôm, cua, cá...

Những biểu hiện dị ứng của bộ máy hô hấp là: ho, hen, viêm mũi, viêm xoang, viêm phế quản.

Những chất lạ gây dị ứng đường hô hấp có thể là phấn hoa, lông gà vịt, lông chó mèo, bụi trong nhà, ngoài đường, vi khuẩn, vi trùng, mốc.

Bộ máy tiêu hóa bị dị ứng có các biểu hiện: tiêu chảy trong thời gian ngắn hoặc tái đi tái lại, nôn ói, đau bụng kèm theo dị ứng da như mẩn ngứa. Dị ứng thêm đường hô hấp ít khi xảy ra.

Những chất gây dị ứng thường là thực phẩm hoặc có trong thành phần thực phẩm như chất prôtêin trong sữa ḅ, ḷng trắng trứng, cá, thịt, các đồ biển; một số quả, lạc (đậu phộng), ngũ cốc các loại...

Muốn chữa trị dị ứng, bác sĩ phải hỏi bệnh nhân tỉ mỉ về nề nếp sinh hoạt, để biết được thường bệnh nhân bị dự ứng trong các điều kiện nào, ở chỗ nào, sau khi ăn ǵ. Từ đó truy t́m và xác định "chất lạ" là chất ǵ, ở đâu.

Ngoài ra, bác sĩ c̣n phải t́m "chất lạ" cả trong máu và tiến hành việc cấy vào dưới da một số chất dễ gây dị ứng để thử nghiệm. Đối với trẻ em, việc cấy thử như vậy rất khó thu được kết quả.

Chữa trị dị ứng là một việc làm đ̣i hỏi một thời gian lâu, phức tạp dù việc làm có vẻ như đơn giản: t́m ra "chất lạ", nguyên nhân của dị ứng rồi tránh xa để đề pḥng. Người ta cũng dùng phương pháp tiêm chích các thuốc chống dị ứng với liều lượng ngày một tăng.

Dị ứng cũng là một chứng bệnh gia truyền nên có thể biết ngay từ lúc đứa trẻ mới sinh bằng cách thử máu. Sau đó, để tránh cho các cháu khỏi có các triệu chứng của bệnh này, th́ tốt nhất là cho các cháu bú sữa mẹ.

(Dị ứng được tŕnh bày thêm trong các mục HEN, ECZEMA MẨN NGỨA).

114. ECZEMA.

ECZEMA có những triệu chứng khác nhau tùy theo độ tuổi của đứa trẻ Bé mới mấy tháng hay đă được hơn 2 năm.

- Đối với các cháu lớn từ 2 tuổi trở đi, eczema thường biểu hiện ở các chỗ gấp chân, tay: da đỏ, thoạt đầu ướt, chảy nước, sau đó, khô đi và ngứa làm đứa trẻ khó chịu, không ngủ được.

Eczema tiến triển trong một thời gian dài, từng thời kỳ và một số trường hợp, kèm theo bệnh hen.

Việc chữa trị đ̣i hỏi một thời gian lâu và thường bị đi BỊ LẠI.

ECZEMA CÁC CHáU SƠ SINH - Từ tháng thứ 2 - 3 trở đi. Thường các cháu bị ở đầu, má, trán, cằm, có thể phát triển tới vai, tay, lưng bàn tay, ngực... Nhưng phần lớn hay bị ở đầu.

Thoạt đầu da cháu bé đỏ lên rồi có những đốm nhỏ xuất hiện, Bé cảm thấy ngứa nên khóc, cựa quậy, sát má xuống giường. Những đốm nhỏ tiết ra một chất lỏng, cứng lại thành vẩy làm chỗ da đỏ khô lại nhưng vẫn đỏ và dễ có những vết nứt.

Một cháu bé có thể bị eczema ngay từ năm đầu và bị đi bị lại từng đợt. Tới tháng thứ 18, cháu bé khỏi nhưng lại có thể bị bệnh HEN TIẾP THEO. ECZEMA LÀM ĐỨA TRẺ DỄ BỊ mất nước và nhiễm trùng.

Việc chữa trị đ̣i hỏi sự kiên tŕ. Một số trường hợp cần bôi thuốc có cortisone.

Các cháu bé bị eczema không cần kiêng sữa nhưng không nên ra nắng, gió.

Trong thời gian bị eczema, tránh tiêm chích các vắc xin trừ trường hợp chích B.C.G pḥng lao.

Không nên cho cháu bé lại gần, hoặc chơi cùng với các cháu mới tiêm ngừa bệnh đậu mùa và hết sức đề pḥng để cháu khỏi bị lây bệnh này.

116. Mẩn đỏ.

Da trẻ em có thể bị những nốt mẩn màu hồng, xung quanh viền trắng nhạt, hơi phồng, to nhỏ tùy lúc, giống những nốt bọ ve cắn làm cho các cháu ngứa. Hiện tượng này có thể xảy ra với cả các cháu sơ sinh và có nhiều nguyên nhân. Có trường hợp v́ thức ăn như trứng (nhất là ḷng trắng trứng), cá, thịt ngựa, sô-cô-la, nước cam, dâu; có khi v́ các dược phẩm đủ loại như thuốc uống, thuốc bôi, thuốc chích (pénicilline là một thí dụ); có khi v́ cháu bé tiếp xúc với những hóa chất hoặc cây cỏ. Với sự cộng tác của bác sĩ, các bà mẹ hoặc người trông nom cháu cần t́m ra nguyên nhân chính để cháu tránh khỏi bị mẩn đỏ sau này. Việc phát hiện nguyên nhân, thường khi rất khó.

Để các cháu đỡ ngứa, có thể cho cháu uống một th́a cà phê xi rô chống dị ứng (antihistaminique).

Bệnh giun sán (sán lải) cũng gây mẩn đỏ ngoài da. Hiện tượng mẩn đỏ có thể có cả ở mặt, bộ phận sinh dục... Nếu bị ở họng, cháu bé sẽ khó thở cần phải được chữa trị ngay.

116. Ghẻ.

Chúng ta không nên coi đó là một việc đáng xấu hổ nếu bác sĩ cho biết: cháu bé bị ghẻ. Ghẻ rất dễ lây, ở bất cứ chỗ nào, bất cứ vật ǵ cháu bé đă tiếp xúc: quần áo, giường, ghế...

Bởi vậy cháu bé có thể đă bị lây ghẻ ngay trong nhà hoặc ở nhà trẻ, ở trường.

Chỗ da bị lây nhiễm có các mụn ngứa thường ở cổ tay, ở những chỗ có nếp nhăn ở khuỷu tay, ở sườn, nách, quanh vú, ở vai, rốn, bộ phận sinh dục, mông, gót chân, gan bàn chân.

Những chỗ kư sinh trùng ghẻ đào rănh để đẻ trứng, da bị phồng lên màu trắng ngà, nh́n kỹ thấy có liên quan với một con đường nhỏ màu xám.

Để chữa trị phải năng tắm cho các cháu, sát xà pḥng, chài da bằng bàn chải rồi bôi thuốc sát trùng (loại thuốc ghẻ) trên toàn thân thể.

Phải giặt, nấu các quần áo, khăn trải giường, găng tay khử trùng giày, dép của cả nhà.

Tất cả mọi người trong gia đ́nh cần được khám xem ḿnh có bị ghẻ không, v́ chỉ chữa trị cho cháu bé th́ không đủ

117. Chốc lở.

Chốc lở là bệnh ngoài da của trẻ em, do các tụ cầu trùng HOẶC LIÊN CẦU TRÙNG GÂY RA. BAN ĐẦU Ở da mọc lên một nốt rộp nhỏ. Nốt rộp to lên trong một vài giờ sau rồi vỡ thành một chấm đỏ, chảy nước, mùi tanh; bên trên dần dần đóng lại thành một lớp vẩy màu vàng, dính như sáp ong, cuối cùng thành màu xám.

CÁC CHÁU HAY BỊ LỞ Ở mặt, quanh mũi, mồm hoặc ở trên da dầu (chốc) và cả bên trong miệng nữa. Những cái vẩy đôi khi rất dày.

Chốc lở dễ lây lan. Chính bàn tay các cháu nhỏ sở vào những VẾT LỞ CỦA M̀NH Ở CHỖ NÀY, rồi lại làm lây lan ra chỗ khác ngay trên cơ thể của cháu. Bởi vậy, các CHÁU BÉ ĐANG BỊ CHỐC LỞ NÊN TẠM NGHỈ Ở nhà, không nên tới trường hoặc nhà trẻ, để tránh lây sang các bạn.

Bác sĩ thường cho thuốc bôi lên vết lở sau khi đă cậy lớp vảy đi. Người ta thường đắp lên vảy một lớp gạc tẩm va-dơ-lin một thời gian để cho vẩy mềm, trước khi làm tróc nó đi.

118. Nhọt.

Một chỗ da phồng lên, đau nhức và đỏ. Sau vài ngày phần da Ở GIỮA MỎNG ĐI, NH̀N thấy.ở dưới có mủ: đó là nhọt. Khi nhọt vỡ, mủ trắng vàng chảy ra.

THOẠT ĐẦU Ở một điểm trên da có thể mọc lên nhiều đầu nhọt rồi mới tụ lại thành một cái duy nhất. Các cháu thường có nhọt ở ĐẦU, TRONG TÓC, Ở LƯNG, MÔNG, ĐÙI, CÁNH TAY. NẾU CHÁU bé mới mấy tháng đă có nhọt th́ rất đáng ngại v́ điều này chứng tỏ cơ thể cháu đă bị loại tụ cầu trùng vàng xâm nhập. Vi trùng này sẽ có thể C̉N PHÁT TRIỂN Ở TAI, RUỘT, ỐNG TIỂU, XƯƠNG HOẶC Ở BỘ máy hô hấp của cháu, gáy ra những biến chứng quan trọng hơn nữa.

Trong khi chờ đợi bác sĩ điều trị, bạn hăy dùng gạc mềm phủ lên trên nhọt để tránh quần áo cọ vào và lây lan ra những chỗ khác.

Dù chỉ có nhọt, nhưng cháu bé cũng cần được khám sức KHỎE TOÀN BỘ.

NGƯờI LớN Có NHọt KHôNG N? lại gần các cháu sơ sinh, không được săn sóc hoặc trực tiếp cho các cháu ăn, uống.

Nếu chính bà mẹ bị nhọt, phải chú ư rửa tay, đeo khẩu trang khi tiếp xúc với Bé. Nếu một bên ngực có nhọt th́ chỉ cho bú bên vú không có nhọt. .

119. ÁP XE.

áp xe là một bọc kín như một cái túi, có chứa mủ, do tế bào và các bạch huyết cầu bị chết sau những trận chiến đấu với các vi trùng đột nhập vào cơ thể tạo thành (thường là loại tụ cầu khuẩn staphylocoque). Điểm cơ thể bị áp xe thường cách với các cơ VÀ MÔ LÀNH KHÁC BỞI MỘT VÙNG BỊ TẤY ĐỎ.

ÁP XE Ở dưới da. Chúng ta có thể theo dơi dễ dàng sự tiến triển của nó. Trong giai đoạn đầu, khi mủ đang h́nh thành và tụ dần vào một điểm, LỚP DA Ở ĐÓ BỊ TẤY ĐỎ, nóng, sưng và đau nhức. Khi mủ đă tích tụ lại một nơi, vùng này trở nên mềm hơn - nếu là cái nhọt, người ta thường nói nhọt đă "chín" - Lúc này, cần phải nhể hay chích để cho mủ thoát ra ngoài. Nếu ta không làm thế, áp xe cũng có thể tự vỡ. Khi mủ đang tích tụ lại, người bệnh thấy đau, nhức và có thể sốt.

Tóm lại, có thể nhớ 4 triệu chứng đặc trưng là: sưng - nóng - đỏ - đau.

Trên đây là sự mô tả hiện tượng bị áp xe "nóng". Có khi sự tiến triển của áp xe rất chậm và lâu khiến người bệnh không chú ư: đó là loại áp xe "nguội".

Da của trẻ sơ sinh và của trẻ em rất mỏng manh, một vết xước nhỏ, một mũi kim chích cũng có thể mở đường cho sự viêm, nhiễm. Do đó, để pḥng bệnh cho các cháu, cần phải giữ ǵn cho da các cháu luôn sạch sẽ. Phải rửa sạch các đồ chơi. Người lớn tiếp xúc với các cháu cũng phải chú ư có đôi bàn tay sạch.

Nếu thấy có chỗ nghi cháu bị viêm nhiễm, phải đưa cháu tới bác sĩ. Trong khi chưa có bác sĩ, có thể lau hoặc đắp lên chỗ bị viêm bằng những miếng gạc tẩm nước ấm có pha cồn để làm giảm đau và hạn chế khu VỰC BỊ VIÊM.

áp xe là điểm bị viêm nhiễm, dù nhỏ cũng không nên coi thường, v́ đó là cửa vào của các vi trùng. Chúng CÓ THỂ ĐỊNH CƯ Ở ĐẤY hoặc phát triển tới mọi nơi khác của cơ thể gây ra các bệnh khác như viêm xương, viêm phổi v.v...

Nếu con bạn bị viêm nhiễm luôn luôn, đó là v́ sức đề kháng của cơ thể cháu yếu.

Điều này có thể liên quan tới một căn bệnh nào đó như bệnh tiểu đường hay suy giảm miễn nhiễm chẳng hạn. Các căn bệnh này có thể có tính chất ngắn hạn hoặc dài lâu.

120. Mụn cơm.

TRẺ EM THƯỜNG CÓ MỤN CƠM Ở bàn tay và bàn chân, giống như những lớp chai. Một số mụn nhỏ MÀU HƠI VÀNG, BẸT CÓ THỂ CÓ Ở bất cứ chỗ nào trên thân thể.

Những mụn cơm này lây v́ nguyên nhân có thể là do vi rút. Nước là môi trường tốt cho hiện tượng lây lan. Bởi vậy, không nên tắm cùng một lúc cho 2 trẻ em, nếu một cháu có hạt cơm.

Có thể làm cho những mụn hạt cơm biến đi bằng cách lấy bông thấm cồn i-ốt hoặc mỡ Salicylic rồi đắp vào buổi sáng và buổi tối lên trên chỗ có mụn. Bác sĩ c̣n có thể khử mụn bằng ni tơ lỏng, hoặc bằng phương pháp phẫu thuật.

Phần nhiều trường hợp, cứ để tự nhiên rồi chúng cũng lặn đi.

121. Mụn rộp.

Nhiều mụn màu đỏ, nổi lên thành cụm như những đầu đanh ghim, tṛn, bóng. Khi các mụn trở thành trong suốt, chỉ có phần chân mụn là đỏ, th́ cả đám khô nhanh, thành vảy màu xám và sẽ khỏi trong ṿng 10 ngày.

Những mụn rộp như thế thường thấy ở MIỆNG (CHỐC MÉP), Ở MẮT VÀ CẢ Ở bộ phận sinh dục. Người lớn cũng hay mắc phải.

Bệnh dễ lây v́ do một loại vi rút gây ra. Đối với các trẻ sơ sinh, bệnh mụn rộp rất nguy hiểm v́ vi rút có thể tấn công hệ thống thần kinh của các cháu bé. Bởi vậy, nếu bà mẹ bị bệnh này khi có mang, khi sanh con, khi cho con bú đều phải có biện pháp pḥng bệnh cho con.

CÁC CHÁU BÉ BỊ MỤN RỘP Ở miệng thường kèm theo sốt hoặc ho. Hiện nay, ngành y đă có một loại thuốc có tác dụng mạnh tới vi rút của bệnh này là Zovirax.

122. Bỏng dạ.

Bỏng dạ là một bệnh ngoài da thường gặp ở CÁC CHÁU MỚI SINH HOẶC TRONG TUỔI BẾ ẵm. Thoạt đầu, da có một chấm đỏ phát triển nhanh thành một bọng nước bằng hạt lúa ḿ . Sau vài giờ bọng vỡ ra để lại một vết mẩn đỏ, ở GIỮA CÓ MỘT V̉NG TR̉N NHỎ MẦU ĐỎ tía, chảy nước. Các nốt này có thể mọc lan khắp người trừ gan bàn tay và bàn chân. Sau 8 tới 10 ngày, da sẽ trở lại b́nh thường.

Bỏng dạ là một bệnh rất dễ lây nên thường gặp ở NHIỀU CHÁU BÉ TRONG CÙNG MỘT THỜI GIAN tại những tập thể như nhà hộ sinh, nhà giữ trẻ v.v... Bé bị bệnh có thể sốt tới 38o-39oC hay hơn nữa. Bé không chịu ăn và có thể bị rối loạn tiêu hóa.

Bệnh này cũng do liên cầu trùng streptocoque hay tụ cầu trùng   staphylocoque gây ra, nên bác sĩ sẽ cho Bé uống thuốc kháng sinh. Nếu không chữa tri cẩn thận, bệnh cũng có thể có những biến chứng rắc rối hơn.

123. Bỏng.

Để xác định bị bỏng nặng hay nhẹ, người ta dựa vào 2 điều: vết bỏng rộng hay hẹp? nông hay sâu ?

Sự nghiêm trọng tức khắc của vết bỏng là tùy ở DIỆN TÍCH BỊ BỎNG, CÓ THỂ GÂY CHOÁNG VÀ MẤT NƯỚC. MỘT CHÁU bé, diện tích da các phần cơ thể như sau :

- Đầu : 18%

- Ngực: 18%

- Lưng: 18%

- Mỗi cánh tay: 9%

- Mỗi bên chân: 14%

Nếu diện tích bị bỏng của cháu bé trên 5%, cần phải đưa đi bệnh viện.

Bỏng trên bề mặt da được gọi là bỏng cấp 1, tuy đau nhưng dễ lành. Sau hơn 10 ngày chỗ bỏng để lại những vết sẹo mầu đỏ.

Những vết bỏng sâu (bỏng cấp 2), lâu lành hơn, từ 15-20 ngày. Những vết bỏng này có liên quan tới da, thịt và có thể cả xương. Khi chữa trị, có khi phải ghép các mô và công việc này cần thực hiện thành nhiều đợt.

Bỏng sâu là bỏng nặng, làm co da, thịt, sau khi khỏi ở MỘT SỐ NƠI NHƯ: MẶT, CỔ, NHỮNG CHỖ có nếp gấp (nách, khuỷu) bàn tay, ngón tay, ngực. Tuy vậy, bị bỏng cấp 1 nhưng trên diện tích lớn có khi nguy hiểm hơn bỏng cấp 2, mà diện tích nhỏ.

Nguyên nhân bỏng đối với trẻ em thường là bị các đồ dùng nấu nước, thức ăn lỏng sôi, dội lên người, sờ tay vào ấm nước sôi, bàn là (ủi) v.v...

Các trường hợp bỏng v́ hóa chất (chất tẩy rửa, axít...), BỎNG V̀ ĐIỆN THƯỜNG BỊ Ở NGÓN TAY, Ở MIỆNG TUY DIỆN TÍCH nhỏ nhưng là những vết bỏng sâu.

Đề pḥng bỏng cho các cháu là biện pháp tốt nhất.

Việc này chủ yếu là do sự chú ư cẩn thận của người lớn, việc tuyên truyền nhắc nhở mọi người qua hệ thống thông tin (rađiô và tivi) về việc giữ ǵn các cháu nhỏ xa các chỗ đun nấu, các ṿi nước nóng, các đồ điện, các hóa chất sử dụng trong gia đ́nh.

Làm ǵ khi cháu bé bị bỏng?

- Trường hợp bỏng trên da (cấp 1): bọc cháu vào một tấm vải sạch để chuyển cháu tới nơi cấp cứu. Không cố gắng cởi bỏ quần áo cháu ra.

Trường hợp vết bỏng nhỏ, không sâu, nhẹ: rửa nhẹ bằng loại xà pḥng sát trùng rồi băng bằng loại băng mềm, xốp để có thể thay băng 2-3 ngày một lần.

124. Bệnh Dôna.

Bệnh Dôna biểu hiện bởi các mụn nhỏ tập trung ở VÙNG NGỰC, VÀNH TAI, Ở TRÁN HOẶC Ở lông mày. Những mụn rộp này sẽ tự khô nhanh tạo thành những cái vẩy. Nhưng vẩy này sẽ bong ra vào khoảng 10 ngày sau, không gây khó chịu hay đau nhiều cho các cháu.

Chứng này do các virút gây ra có lẽ cùng loại với vi rút gây ra bệnh thủy đậu. Rất có thể, có sự liên quan và lây lan giữa 2 chứng thủy đậu và dôna.

125. Hạch.

Hạch là những điểm phồng chúng ta có thể sờ thấy dưới da Ở CỔ, DƯỚI TAI, DƯỚI HÀM, DƯỚI CÁNH TAY, Ở NÁCH, Ở BẸN. ĐÓ CŨNG LÀ NHỮNG ĐIỂM SẢN XUẤT bạch huyết cầu của máu có khả năng chống sự viêm nhiễm. Trẻ em khi bị ho, viêm họng, viêm tai, sởi.... thường có những hạch nổi lên ở CỔ.

CÁC CHÁU HAY CÓ HẠCH Ở CỔ, Ở NÁCH VÀ Ở HÁNG. HẠCH CÓ THỂ BẤT chợt đỏ, nóng và đau đó là viêm hạch do vi trùng gây ra thường gây sốt và phát triển như một áp xe có khi cần phải chích ra.

Những hạch cứng, không đau, lâu không tan thuộc loại viêm hạch măn tính, cần phải cho bác sĩ biết.

Những trẻ em hay có hạch mỗi khi đau hoặc có bệnh ǵ thường là các cháu yếu, vẻ mặt xanh xao, hay mỏi mệt, sức khỏe kém.

Những loại bệnh như sởi, bệnh tăng bạch cầu đơn nhân do nhiễm trùng bệnh toxoplasmose... có thể gây phản ứng cho cơ thể, tạo ra nhiều hạch.

126. Rát v́ lá han.

Nếu cháu bé nghịch phải những lá han - một loại lá có lông dễ cắm vào tay chân người đụng chạm tới nó gây nhức rát - hăy đắp lên chỗ da bị rát một khăn tẩm nước có pha giấm. Nếu cháu bị đau nhiều, cho uống aspirin (nếu bác sĩ đồng ư) hoặc một loại thuốc chống dị ứng (antihistamine) .

127. Bệnh vẩy Leiner-moussous.

Bệnh này c̣n gọi là bệnh "hai cực" v́ các cháu bé THƯỜNG BỊ Ở PHẦN THÂN dưới như mông, đùi rồi lại tới phần trên như đầu, tóc, ngay khi cháu mới sinh được vài tuần.

Đây là một bệnh ngoài da: da nhẵn khác thường và đổ mồ HÔI, ẦM VÀ ĐỎ. MỚI ĐẦU Ở MÔNG, bộ phận sinh dục, đùi trong, bụng. Sau tới đầu: phần da đầu, lông mày có những vẩy nhờn, bóng mầu vàng sẫm. Khi những vẩy này bong ra, phần da ở CHỖ ĐÓ ĐỎ ỬNG. HIỆN TƯỢNG NÀY CÓ THỂ XẢY RA Ở MỌI NƠI CÓ vết nhăn như cổ, nách, sau tai hoặc toàn thân.

Cháu bé không sốt và vẫn có vẻ b́nh thường. Một số ít có thể đi nhiều phân hơn mọi khi.

ĐỂ CHỮA TRỊ, VẪN CHO CHÁU ĂN Ở mức b́nh thường. Dùng dầu thảo mộc (dầu ô-liu) lau những chỗ bị viêm rồi rửa sạch bằng loại xà pḥng giàu tính axít. Bác sĩ có thể cho cháu bé dùng các thuốc bôi nước có mầu hoặc các pom-mát có chất kháng sinh.

Để cháu chóng khỏi, cần giữ cho da cháu thật khô. Muốn vậy, PHẢI THAY QUẦN ÁO CHO CHÁU LUÔN. BỆNH VIỆN, NGƯỜI TA ĐỂ CHÁU Ở truồng, ngoài không khí có nhiệt độ thích hợp.

Hết sức tránh làm cho cháu đổ mồ hôi như không mặc cho cháu những quần áo bằng vải không thấm, vải tổng hợp, đồ len v.v...

Bệnh này thường sẽ khỏi trong vài tháng. Nguyên nhân bệnh chưa được rơ nhưng đây là loại bệnh khác với eczema.

128. VIÊM TẤY VÀ CHÍN MÉ.

- VI? TấY - là một loại áp xe có THỂ LAN RỘNG (COI THÊM VỀ NHỌT).

- CHÍN MÉ - THƯỜNG THẤY Ở NGÓN TAY, nhiều khi chỉ là một điểm nhỏ có mủ. Tuy vậy, cũng không được coi thường và bỏ qua. Cần phải rửa sạch, giữ sạch và đôi khi phải chích để cho mủ thoát ra.


MỤC LỤC

YKHOANET - Website Y Khoa Việt Nam

YKHOA.NET

 

BS PHAN XUÂN TRUNG

"Lăng tử giữa thương trường"


 WHO definition of HEALTH:
Health is a state of complete physical, mental and social well-being and not merely the absence of disease or infirmity.


Hệ thống phần mềm quản lư bệnh viện
YKHOA.NET

 

Website YKHOANET.COM khai trương ngày 24/12/2000 - Năm thứ Tư.

Website YKHOANET - Y KHOA VIỆT NAM
www.ykhoanet.com www.ykhoa.net 

 In trang này     Phản hồi

Web Master: Dr PHAN XUAN TRUNG - drxuantrung@ykhoa.net