26o BỆNH TẬT TRẺ EM
VII. NHỮNG HIỆN TƯỢNG LIÊN QUAN ĐẾN SỨC KHOẺ
129. Những cơn khó chịu của trẻ em.
Ngày nay, người ta hay gộp chung một cụm từ ít nhiều mơ hồ
"những cơn khó chịu của trẻ em". Những hiện tượng rối loạn xảy ra đột ngột như:
tím tái đột ngột ngừng thở, chân tay mềm nhũn, ngất đi hoặc lên cơn co giật.
Những hiện tượng trên xảy ra trong một thời gian ngắn - vài
phút hay vài giày - và sẽ qua đi khi cháu bé được săn sóc (lay người, vuốt ngực,
tay, chân...) nhưng rồi lại bị trở lại, và có thể để lại các di chứng.
Nguyên nhân th́ nhiều như: bị rối loạn tiêu hóa, tim mạch hô
hấp hoặc bị nghẹn thở.
Bác sĩ phải t́m được nguyên nhân mới đề ra được các phương
pháp chữa trị hữu hiệu, hoặc các phương pháp pḥng bệnh.
130. Tiếng khóc của Bé.
Khi Bé chưa biết nói th́ tiếng khóc của Bé là phương tiện
thông tin với người lớn về trạng thái của ḿnh, đang khó chịu hay dễ chịu, đang
cần ǵ, muốn ǵ, đang đau hay sợ...
Do đó, người lớn cần hiểu tiếng khóc của Bé muốn diễn ĐẠT
ĐIỀU G̀?
Bé ĐóI : khóc to, lâu.
Bé ĐAU : khóc ré lên, to nhỏ tùy
theo BI ĐAU ÍT HAY NHIỀU.
Bé ĐAU RÂM RAN, KHÓ CHỊU: TIẾNG KHÓC ĐỀU ĐỀU, RẶN RA, dai
dẳng.
BÉ QUẤY, LÀM NŨNG: khóc nức nở.
Các bà mẹ là những người dễ thông hiểu tiếng khóc của con
nhất và c̣n chú ư cả tới những nét mặt, động tác tay chân, cách nằm, quẫy, nhịp
thở v.v.... của Bé nữa. Thí dụ Bé khóc đúng giờ vào mỗi buổi chiều là cần đi ị.
Bất chợt ré lên hay rên khẽ: Bé bị đau tai hoặc đau bụng.
131. Cơn khóc.
Trẻ em thường có những cơn gào, cơn khóc, đến nỗi mặt xanh đi
v́ phải nhịn thở. Có cháu có thể ngất đi một lát. Tuy các hiện tượng này dễ gây
xúc động cho người lớn, nhưng không có ǵ nguy hiểm.
Các cháu có tính hay hờn, dỗi thường có những cơn như thế.
Các bác sĩ có thể khuyên bạn cách chữa là: làm thế nào cho các cháu không tin
vào kết quả của việc lấy tiếng khóc làm vũ khí để yêu sách người lớn nữa.
132. Mệt.
Mấy tuần nay, sắc mặt của con bạn có vẻ tái nhợt, mắt thâm
quầng, nét mệt mỏi. Cháu không chịu chơi, ngậm ngón tay và không chịu ăn. Cháu
chỉ muốn nằm dù thân nhiệt không cao, không sốt.
Sự mệt mỏi của cháu có thể là do sự phát triển của cơ thể
hoặc v́ bị mất ngủ trong những ngày vừa qua do đi ngủ muộn, dậy sớm để tới
trường, không ngủ được v́ tiếng ồn của ra-đi-ô, ti-vi... Nhưng cũng rất có thể,
đó là dấu hiệu của việc cháu "sắp bị bệnh". Cần cho cháu tới bác sĩ để khám
bệnh.
133. Mỏi nhức v́ lớn.
Khi đứa trẻ bị đau lâu, đau đi đau lại th́ cần phải đi khám
bác sĩ. V́ ngoài hiện tượng nhức mỏi v́ tuổi lớn, có thể có những nguyên nhân
khác như nhức v́ bị đau họng chẳng hạn. Khi bị đau v́ một chứng bệnh nào đó,
thường có các hiện tượng kèm theo như: thân nhiệt tăng, người mệt, sút cân, hay
chảy máu cam. Chỗ đau sờ thấy nóng và bị tấy đỏ .
134. Ngủ không yên giấc.
Hiện tượng trẻ em ngủ không đẫy giấc hoặc khó ngủ thường xảy
ra trong một thời gian ngắn và không nghiêm trọng. Tuy vậy, đôi khi cũng làm ảnh
hưởng tới sức khỏe của các cháu và làm cho gia đ́nh lo lắng, có thể do nhiều
nguyên nhân gây ra như mọc răng, viêm tai, viêm họng, khó thở. Nhiều khi lại do
trẻ nóng quá, v́ mặc quần áo bó sát ḿnh, hoặc trẻ đái dầm hoặc pḥng ngủ sáng
quá hay ồn quá.
Ngoài những nguyên nhân trên, số c̣n lại là những nguyên NHÂN
TÂM LƯ.
Sợ HăI LàM MấT NGủ - Từ 1 tuổi trở
đi, trẻ em thường khó ngủ hơn v́ sợ bóng tối, sợ ngủ một ḿnh. Trước khi ngủ,
các cháu đ̣i có người lớn bên cạnh, được ngủ cùng một đồ chơi quen thuộc hoặc
được nựng nịu, vuốt ve. Tất cả những sự việc này chứng tỏ cháu đă lớn hơn trước,
v́ cảm nhận được hiện trạng của ḿnh đối với môi trường chung quanh.
Nếu những đ̣i hỏi của các cháu xảy ra một cách đột ngột và
kéo dài, người lớn cần phải t́m hiểu nguyên nhân.
Có khi chỉ v́ cháu không muốn phải nằm trong cái giường có
chấn song chung quanh nứa. Hoặc v́ cháu hay nằm mơ thấy những cảnh sợ hăi, do cứ
đến tối là nghe thấy mẹ khóc sụt sùi v́ chuyện bố cháu luôn phải vắng nhà. Một
cháu bé khác, mỗi lần đi ngủ là một lần người lớn phải khó nhọc dỗ dành, ép buộc
như đánh vật với cháu, nhưng không ai chú ư hiểu tâm lư của cháu, muốn đợi mẹ đi
làm về - mẹ cháu làm y tá thường về muộn - và chỉ ngủ yên giấc khi thấy mẹ đă ở
nhà. Biết được yêu cầu của các cháu, làm cho các cháu yên tâm sẽ mang lại cho
các cháu giấc ngủ ngon.
XúC ĐộNG Và KíCH THíCH GÂY KHó NGủ
- Có nhiều nguyên nhân làm cho các cháu nhỏ khó ngủ buổi tối. Có cháu khó NGỦ V̀
BAN NGÀY ĐĂ NGỦ MỘT GIẤC DÀI Ở NHÀ TRẺ. CÓ
CHÁU có thói quen ngủ sớm, nhưng cả ngày bố mẹ vắng nhà, tới buổi tối mới gặp
con, nên vui đùa nựng nịu cháu làm cháu quá giấc hoặc v́ xúc động, vui mừng quá
trước khi ngủ, cũng làm cho cháu khó đi vào giấc ngủ.
Trước giờ ngủ, không nên làm các cháu bị kích thích như cho
các cháu tập đi, tập nói, hoặc đ̣i hỏi quá ở các cháu về những vấn đề sạch sẽ.
Các cháu nhỏ, chưa thích ứng với thời gian làm việc quá DÀI.
NẾU CÁC CHÁU PHẢI HỌC QUÁ MỆT Ở TRƯỜNG, ĐẾN TỐI CHÁU CŨNG BỊ KHÓ NGỦ.
DậY SớM - Có nhiều cháu bé có thói
quen dậy sớm. Để các cháu khỏi quấy trong thời gian chờ bữa ăn sáng nên nghĩ ra
việc ǵ để các cháu làm hoặc giải trí. Khi cháu đi ngủ buổi tối, ĐỂ MỘT SỐ ĐỒ
CHƠI Ở BÊN cạnh các cháu.
Khi thức dậy, cháu sẽ chơi một ḿnh ngay ở TRONG GIƯỜNG. NẾU CHÁU DẬY SỚM QUÁ, nên
cắt bớt các giấc ngủ ban ngày hoặc cho các cháu đi ngủ chậm vào buổi tối.
Những cháu bắt buộc phải dậy sớm cùng bố mẹ - để bố mẹ đưa
tới nhà trẻ khi đi làm cần phải được cho ngủ sớm, để đảm bảo thời GIAN NGỦ, NẾU
KHÔNG SẼ BỊ ẢNH HƯỚNG TỚI SỨC KHỎE.
NHữNG LIềU THUốC NGủ - Như đă nói Ở
PHẦN TRÊN, CÁC CHÁU BÉ khó ngủ, khóc đêm làm người lớn vừa lo lắng, vừa mất ngủ
lây làm căng thẳng thần kinh của cả nhà. Nhưng nếu biết lo cách đối phó trước,
th́ nhiều khi rất đơn giản: một b́nh sữa ấm sửa soạn từ lúc tối, hoặc nhiều khi
chỉ cần một ít nước ấm trong b́nh thôi cũng đủ làm các cháu lại yên trí ngủ
tiếp.
Tóm lại, để chữa bệnh khó ngủ cho các cháu, phần lớn trường
hợp không cần dùng thuốc. Cần t́m hiểu nguyên nhân và đáp ứng các yêu cầu tâm lư
của các cháu là đủ. Bởi vậy, nhiều khi bố mẹ các cháu cần nhờ tới sự giúp đỡ của
các bác sĩ chuyên khoa tâm lư về vấn đề này.
135. Run, giật ḿnh.
Các trẻ sơ sinh dễ bị giật ḿnh: co tay chân, run cằm, run
người... v́ những lư do b́nh thường (tiếng động, ánh sáng). Trong khi tắm hoặc
khi thay tă lót cũng vậy. Hiện tượng này là thường v́ hệ thần kinh của cháu c̣n
non mà thôi.
Các cháu lớn hơn, cũng hay giật ḿnh hoặc run người mỗi khi
có sự việc ǵ làm các cháu cảm động.
138. Sốt - Cách hạ sốt.
Chúng ta xác định là cháu bé bị sốt khi nhiệt độ lấy ở hậu
môn của cháu cao hơn 37,5oC. Thân nhiệt b́nh thường của mọi người
buổi sáng là 36,5oC và buổi chiều là 37,5oC. Tuy vậy, nếu
ta lấy thân nhiệt của một cháu bé đang hoạt động, chạy nhảy, chơi đùa mà không
để cho cháu có thời gian nghỉ ngơi th́ thân nhiệt của cháu CÓ THỂ LÀ 38OC.
SốT Là Ǵ ? Sốt là dấu hiệu của cơ
thể đang chống lại một cuộc xâm nhập nào đó từ bên ngoài vào của vi trùng HAY VI
RÚT. NHƯNG KHÔNG PHẢI LÚC NÀO CŨNG VẬY. Ở các cháu sơ sinh có thể bị sốt v́ ăn sữa đặc quá, v́ sưởi nóng quá,
v́ cơ thể bị mất nước mà không được uống đủ để bù lại, v́ PH̉NG NGỦ HAY THỜI
TIẾT KHÔ QUÁ V.V...
N? LấY NHIệT Độ CHO CáC CHáU VàO lúC NàO ? Sốt là dấu hiệu đầu tiên của bệnh. Khi thấy một đứa trẻ không
chịu ăn, bàn tay nóng th́ việc đầu tiên cần làm là lấy thân nhiệt, (cặp sốt) cho
các cháu. Nói chung, khi các cháu có dấu hiệu ǵ không b́nh thường, nên cặp sốt
để biết thân nhiệt của cháu, nhưng cũng không nên lúc nào cũng cặp sốt và đâm ra
lo lắng không đâu v́ việc này.
KHI NàO CầN ĐƯA CHáU Bé TớI BáC Sĩ ?
1 Nếu cháu sốt trên 37,5oC, và mới dưới 6 tháng
tuổi.
2. Khi thân nhiệt của cháu từ 39oC trở lên (đối
với các cháu lớn).
3. Nếu nhiệt độ của cháu 37oC lúc sáng, 38oC
lúc chiều nhưng cứ sốt nhẹ như thế liền 4, 5 ngày rồi.
4. Trong thời gian cháu đang bị bệnh, bỗng thân nhiệt tăng
lên. Như vậy là có thể có biến chứng.
5. Bác sĩ đă tới thăm và cho uống thuốc. Nhưng 2, 3 ngày qua
rồi mà bệnh vẫn không thuyên giảm.
Tuy vậy, người lớn nên giữ b́nh tĩnh. Việc chữa trị cần có
THỜI GIAN.
CầN CHú ư TớI CáC BIểU HIệN Ǵ, TRƯớC KHI Đưa CHáU TớI BáC Sĩ
?
Người săn sóc cháu bé nên chú ư quan sát các biểu hiện bệnh
của cháu, để trả lời bác sĩ về những câu hỏi sau:
- Cháu có nôn không? Có ho không?
- Người cháu có nổi lên vết ǵ không?
- Họng cháu thế nào?
- Lưỡi cháu thế nào?
- Phân cháu có ǵ khác thường không?
- CHÁU CÓ CHỊU ĂN KHÔNG?
Có Ǵ Lạ NếU THÂN NHIệT CHáU TĂNG NHANH?
Thân nhiệt của trẻ em dễ tăng nhanh hơn và cao hơn so với
người lớn. Bởi vậy không nên vội lo lắng.
Một cháu bé sốt 38oC liền mấy hôm rồi đáng lo hơn
là một cháu khác 40oC v́ họng đỏ. Có một số cháu dễ có nhiệt ĐỘ CAO
HƠN NHỮNG CHÁU KHÁC KHI BỊ SỐT.
Có CầN LàM CHO NHIệT Độ CủA CHáU Bé Hạ XUốNG NGAY KHôNG ?
Nhiều bà mẹ thấy thân nhiệt của con cao, muốn làm sao cho
thân nhiệt của cháu hạ xuống ngay v́ nghĩ rằng thân nhiệt cao là bệnh, làm cho
thân nhiệt xuống là giảm bệnh hay hết bệnh. Thật là một nhận thức sai lầm, nguy
hiểm.
Quả thật, sốt gây mệt. Các cháu bé dưới 2 tuổi, sốt cao có
thể gây co giật. Tuy vậy, thân nhiệt là cái thước đo t́nh h́nh bệnh để báo cho
bác sĩ biết. Người ta có thể dùng thuốc để làm hạ nhiệt độ xuống, nhưng bệnh vẫn
chưa khỏi.
Bởi vậy, trong thời gian điều trị bệnh cho một cháu bé, dù
thân nhiệt của cháu đă xuống, cháu đỡ sốt hay không sốt nữa, ta vẫn phải tiếp
tục chú ư theo dơi cẩn thận v́ cháu có thể vẫn chưa khỏi bệnh. Nên NHỚ: KHỎI SỐT
CHƯA PHẢI LÀ KHỎI BỆNH.
LàM THế NàO Để Hạ NHIệT Độ ?
Người ta thường dùng thuốc hạ nhiệt như aspirin và
paracetamol và các phương pháp khác như tắm, chườm lạnh, nước đá.
SAU KHI RA VIệN RồI, KHỏNG CầN ĐO NHIệT Độ nữa
Khi bác sĩ đă nói : "Cháu bé đă khỏi, có thể ra viện rồi!"
các bà mẹ không cần phải tiếp tục do nhiệt dộ cho cháu nữa. Nếu cháu có nhiệt độ
37,2oC buổi sáng th́ cũng không có ǵ đáng lo ngại v́ điều cốt yếu
là: cháu có chịu chơi và chịu ăn không?
THÂN NHIệT ThấP QUá
Sau khi khỏi bệnh, có khi thân nhiệt của cháu bé ở 36OC TRONG 3, 4 HÔM LIỀN TH̀
cũng không có ǵ đáng lo ngại trừ trường hợp với các trẻ sơ sinh.
THÂN NHIệT ĐảO NGƯợC BấT THƯờNG
Một số trẻ sơ sinh có 37,7oC buổi sáng và 37oC
BUỔI CHIỀU CÓ THỂ LÀ DO NGUYÊN NHÂN VỀ TAI-MŨI-HỌNG, cần phải chú ư sau này.
137. Mơ hoảng ban đêm.
Giữa đêm, đứa trẻ bỗng thức dậy, hốt hoảng. Cháu ngồi lên, sợ
hăi nh́n xung quanh và cũng không biết tại sao ḿnh phát hoảng như thế, tuy chỉ
nhớ lơ mơ về những ǵ ḿnh vừa thấy trong giấc mơ. Sau đó, cháu lại yên tâm nằm
xuống, ngủ tiếp.
Đôi khi cháu kêu lên, vẻ sợ hăi lúc thức dậy, bước xuống KHỎI
GIƯỜNG ĐỂ TỚI NÉP M̀NH TRỐN Ở góc nhà. Nếu người lớn tới, cháu sẽ bám vào chân cho đỡ sợ, tuy 2
mắt vắn nhắm nghiền và không biết ḿnh đang ôm chân ai. Cháu nói lắp bắp chỉ vào
bóng tối hay khoảng không, nơi có một h́nh ảnh nào đó cháu vừa tưởng tượng ḿnh
đă nh́n thấy.
Trong trường hợp như vậy, người lớn nên giữ im lặng, không
cần đánh thức cháu dậy. Chỉ một lát sau, cháu sẽ b́nh tĩnh và đi ngủ trở lại.
Buổi sáng khi thức giấc, cháu đă quên hết tất cả mọi việc đă xảy ra ĐÊM QUA.
NGƯờI LớN N? LàM Ǵ ?
Nếu cháu thức dậy, nên lại ngồi gần, cầm tay cháu và hỏi cháu
bằng giọng b́nh tĩnh. Nếu cháu muốn kể về nội dung giấc mơ, hăy để cho cháu kể
hết. Nếu cháu muốn bật đèn, nên hé cửa để đèn nơi khác chiếu vào pḥng, hoặc bật
ngọn đèn đêm. Không cần ánh sáng chói.
KHÔNG N? - Không nên la mắng hoặc
chế giễu, cho cháu là nhút nhát, làm cháu càng sợ hơn.
Không nên v́ thế mà đưa cháu sang ngủ chung với người lớn.
Làm như vậy, cháu bé sẽ quen và thấy ngại ngủ một ḿnh.
HăY T́M NGUY? NHÂN NHữNG GIấC MƠ -
TRẺ EM Ở ĐỘ TUỔI TỪ 2 ĐẾN 5
tuổi thường có những giấc mơ ngắn. Những giấc mơ đó có tác dụng làm thần kinh
các cháu thư giăn, làm mờ đi trong tn óc bao nhiêu h́nh ảnh và hoạt động cháu đă
nh́n thấy xung quanh trong cả một ngày. Nhưng nếu cháu mê sảng luôn và có vẻ sợ
buổi tối th́ phải t́m nguyên nhân. Nhiều khi, nguyên nhân rất b́nh thường như:
giường chật quá, bộ quần áo cháu mặc khi đi ngủ bó sát vào người quá, hoặc cháu
bị nóng, bị tức ngực v́ đắp quá nhiều chăn. Có khi lại là bữa cơm chiều ăn quá
no hay vừa coi một chuyện đáng sợ trên tivi. Đôi khi, cháu phải mang theo một
nỗi lo sợ vào giường ngủ v́ bố mẹ đă ra lệnh: "Cấm được đái dầm?". Cháu sợ khi
thức dậy, bị anh chị em chế diễu v.v...
Nếu bạn đă chú ư tránh gâcho cháu mọi điều xúc động hoặc ảnh
hưởng như trên mà cháu vẫn tiếp tục mê hoảng và sợ buổi tối, th́ nên nói với bác
sĩ để chữa trị cho cháu bằng phương pháp tâm lư.
Người lớn nên hiểu theo các trẻ nhỏ về buổi tối như sau: buổi
tối phải xa cách mọi người - nếu cháu ngủ một ḿnh - buổi tối đáng sợ hăi, mọi
vật sẽ biến đi v́ không trông thấy, kể cả nét mặt thân yêu của bố mẹ sẵn sàng
bảo vệ cháu lúc ban ngày. Dùng thuốc không chữa trị được tận gốc hiện tượng mơ
hoảng của trẻ em. Cần có sự săn sóc và t́nh cảm của các người thân cùng sự cộng
tác của các chuyên gia tâm lư.
138. Toát mồ hôi.
Toát mồ hôi là một biện pháp quan trọng của cơ thể để chống
lại nhiệt độ.
Trước khi than thở: "Con tôi hay đổ mồ hôi nhiều quá!' các bà
mẹ nên t́m nguyên nhân nào đă làm Bé như vậy. V́ đă đắp nhiều chăn mền cho cháu
quá: việc làm này có hai điểm không có lợi. Một là: mồ hôi ra nhiều, cháu bé dễ
bị cảm v́ đi từ trạng thái bị nóng sang bị lạnh.
Hai là: đắp nhiều chăn, mặc nhiều áo làm cho cơ thể Bé không
quen chống chọi với cái lạnh, sẽ trở nên yếu ớt hơn những đứa bé khác.
Cũng có những đứa trẻ hay toát mồ hôi nhiều hơn những trẻ
KHÁC. ĐẤY LÀ ĐẶC TÍNH CỦA CHÁU MÀ THÔI.
N? LàM Ǵ KHI Bé SốT Và TOáT Mồ HóI
1. ĐÓ LÀ
chuyện thường, không có ǵ đáng lo ngại.
2. Thay quần áo, tă lót và lau khô cho Bé để Bé khỏi bị lạnh.
3. Cho Bé uống nước. Việc này rất quan trọng v́ cơ thể Bé bị
thiếu nước. Cho cháu bé sơ sinh bú b́nh nước. Nếu cháu lớn hơn, có thể cho uống
nước trái cáy.
4. Xem có phải v́ cháu mặc nhiều quần áo hay đắp nhiều mền
quá không ?
5. Xem có phải v́ pḥng nóng quá không ?
139. Nghiến răng.
Trong khi ngủ, một số trẻ em nghiên răng kèn kẹt. Hiện tượng
này cũng không có ǵ quan trọng, nhưng nếu xảy ra thường xuyên th́ có thể do v́
một số nguyên nhân tâm lư mà người lớn cần phải t́m hiểu như: Bé CÓ GHEN TỊ VỚI
ANH CHỊ EM NÀO KHÔNG ? CÓ CẢM THẤY BỊ BỎ RƠI KHÔNG ? CÓ bị căng thẳng, lo sợ v́ một sự việc ǵ không?
Nếu t́m thấy nguyên nhân và tăng cường thêm sự âu yếm đặc
biệt đối với Bé, chứng nghiến răng sẽ không c̣n nữa.
140. Chứng co giật khi sốt.
TRẺ EM Ở
ĐỘ tuổi từ 6 tháng tới 2 năm, hay bị sốt và co giật v́ sốt cao, khi các cháu bị
viêm họng, viêm tai, viêm phổi những chứng bệnh các cháu thường mắc phải.
HIỆN TƯỢNG CO GIẬT THƯỜNG XẢY RA Ở
độ tuổi này v́ hệ thống thần kinh của các cháu c̣n non
yếu. Trong thời gian bị sốt, cứ mỗi lần thân nhiệt lên cao đột ngột là CÁC CHÁU
LẠI BỊ CO GIẬT.
TRIệU CHứNG CủA CO GIậT - Trước khi
có hiện tượng co giật mặt cháu bé tái đi, mê man, cứng người lại mắt trợn ngược.
Mấy giây sau, hiện tượng co giật xuất hiện ở mặt, ở CHÂN, TAY TRONG MỘT VÀI PHÚT RỒI THÔI.
Cháu bé thở mạnh, người lả đi. Từ trạng thái mê man, không tỉnh cháu đi vào một
giấc ngủ mê mệt.
Trong các trường hợp nhẹ , người ta khó nhận thấy các cơn co
giật v́ cháu bé chỉ cứng người hoặc giật chân tay, mặt tái trong một thời gian
ngắn. Thay vào hiện tượng mê man, có lúc cháu bé như không nghe, không nh́n,
không cảm thấy mọi vật chung quanh. Chỉ có đôi mắt bị trợn ngược là triệu chứng
rơ nhất.
Trong lúc bác sĩ chưa có mặt, cần phải làm những việc sau để
nhiệt độ của cháu bé hạ xuống:
- Cởi khuy áo hoặc bỏ bớt quần áo;
- Tắm cho cháu bằng nước có nhiệt độ thấp hơn thân nhiệt của
cháu 2oC trong 10 phút; có thể tắm nhiều lần như vậy;
- Chườm nước mát hay nước đá;
- CÓ THỂ
dùng các loại thuốc hạ nhiệt như aspirin, paracétamol.
Bác sĩ sẽ tiếp tục điều trị bằng các loại thuốc khác để chấm
dứt các cơn co giật và ngăn ngừa không xảy ra nữa.
SAU CƠN CO GIậT - Bác sĩ thường yêu
cầu bố mẹ các cháu đưa cháu đi bệnh viện để làm một số xét nghiệm, sau khi cháu
đă qua cơn. V́, hiện tượng co giật rất có thể liên quan tới tổn THƯƠNG Ở
MÀNG ÓC.
Hơn nữa, cần phải có phương pháp đề pḥng tránh cho cháu bị
lại. Nếu cháu bé lại sốt ngoài các biện pháp áp dụng ở PHẦN TRÊN, BÁC SĨ CÓ THỂ CHO CHÁU uống
thuốc chống co giật Valium. Thuốc giọt uống làm nhiều đợt.
V̀ HIỆN TƯỢNG SỐT CAO KÈM CO GIẬT Ở
nhiều trẻ thường xảy ra bất chợt, nhiều lần lặp đi lặp
lại nên có trường hợp, bác sĩ yêu cầu cho trẻ uống thuốc đề pḥng liên tục cho
tới khi cháu 4 - 5 tuổi. Nhất là đối với các cháu hay có các cơn kéo dài hoặc
bác sĩ đă phát hiện thấy trong gia đ́nh Bé có người mắc chứng động kinh.
Cảnh cháu bé bi sốt co giật thường gây ấn tượng mạnh cho các
người thân săn sóc cháu. Tuy vậy, khi cơn đă qua đi th́ cháu lại trở lại trạng
thái b́nh thường.
141. Co giật mà không sốt.
Nếu cháu bé không sốt cao mà cũng bị co giật th́ có thể là do
có các hiện tượng sinh học bất thường trong cơ thể như: lượng đường hoặc lượng
Canxi trong người bị sụt một cách bất thường, hoặc cháu bị tổn thương trong năo.
Nếu không v́ có các nguyên nhân trên th́ phải nghĩ đến chứng động kinh.
142. CHỨNG CO GIẬT Ở trẻ sơ sinh.
Các trẻ sơ sinh bị những cơn co giật hoặc tay chân co cứng
lại là do cơ thể bị thiếu chất Canxi . Cơ thể các cháu nhỏ cần có các tia nắng
hoặc ánh sáng mặt trời để hấp thụ chất Canxi.
Chứng bệnh này thường kèm theo bệnh c̣i xương. Để chữa trị,
bác sĩ thường cho các cháu uống các thuốc trong thành phần có vitamm D VÀ CANXI.
143. Cơn co giật.
Chứng này có đặc điểm là tiếp theo một cơn co giật là hiện
tượng chân, tay, đầu cháu bé gập và co rúm lại về phía trước hoặc duỗi ra và ưỡn
ngửa về phía sau. Nguyên nhân của chứng này hiện vẫn chưa được biết rơ trừ một
vài trường hợp do dị tật bẩm sinh của hệ thần kinh.
Chứng này thường kèm theo hiện tượng ngưng phát triển tâm lư
và vận động. Khi cháu bé lên cơn, cần phải nhờ tới sự giúp đỡ của bác sĩ ngay.
144. Chứng động kinh.
Động kinh là một chứng bệnh gây co giật cơ thể, không phải v́
sốt cao, cũng không phải v́ cơ thể mất thăng bằng về mặt sinh học như thiếu
glucô hay Canxi trong máu.
Người ta thường dùng bộ quét (scanner) để ḍ t́m xem có PHẢI
DO TỔN THƯƠNG Ở NĂC không.
Nếu cũng không t́m thấy nguyên nhân th́ chỉ c̣n lại một lư do: bệnh GIA TRUYỀN.
ở trẻ em, hiện tượng bị động kinh
có nhiều mức: có cháu bỗng nhiên ngă vật xuống, cong người lên rồi co giật tay
chân và các cơ mặt. Đôi mắt vô hồn đờ đẫn, trợn ngược, mặt nhăn nhúm, thở khó
khăn. Lát sau, cháu thở b́nh thường trở lại, các cơ bắp toàn thân đều thư giăn
tới mức, có cháu tè dầm. Sau đó, cháu có thể thiếp đi trong giấc ngủ. Khi tỉnh
dậy, cháu không hề biết ǵ về những sự việc vừa xảy ra với bản thân ḿnh.
CÓ TRƯỜNG
hợp các hiện tượng xảy ra không đầy đủ như trên, chỉ có hiện tượng cong cứng
người hoặc ngược lại, người mềm rũ, cộng với vài sự co giật ở THÂN THỂ, MẮT LỜ ĐỜ.
Hoặc Bé vẫn tỉnh táo, nhưng không nói được, cơ thể bị co GIẬT
Ở MỘT VÀI NƠI KHI BÉ vừa
thức dậy, hoặc đang trong giấc ngủ.
CÓ CÁC
CHÁU nhỏ 5 - 6 tháng đă có các biểu hiện co giật như thế. Lại có các cháu từ 3
tuổi trở lên, có những lúc như bị hôn mê, không biết ǵ trong một vài giây.
Động kinh là một chứng bệnh cần phải chữa trị lâu, mất nhiều
công sức, nhưng ngày nay, không c̣n là một bệnh không thể chữa khỏi, hoặc phải
chữa suốt đời. Người ta đă coi một số trường hợp như một loại bệnh nhẹ, tuy
rằng, bệnh này vẫn cần tới sự săn sóc của các bác sĩ chuyên ngành.
Khi c̣n trong thời gian chữa trị, các cháu cần được theo dơi
từng ngày. Nhưng nếu trong 3 năm liền mà cháu không lên cơn hoặc có một triệu
chứng ǵ nữa th́ có thể ngưng việc thuốc thang, điều trị. Chỉ cần chú ư tổ chức
sinh hoạt cho có nề nếp, bảo đảm cho các cháu không bị mất ngủ. Các nhà tâm lư
học cho rằng nên để các cháu tới trường như các đứa trẻ b́nh thường khác. Không
nên lúc nào cũng quá chú ư tới các cháu v́ chính làm như vậy sẽ làm cho tinh
thần các cháu bị căng thẳng hơn.
Các cháu bị chứng động kinh vắn có thể tham gia các hoạt động
thể dục thể thao, kể cả bơi lội, nhưng phải có người canh chừng.
Điều cốt yếu trong việc chăm sóc các cháu bị chứng bệnh này
là giúp đỡ các cháu phát triển b́nh thường về mặt tinh thần cũng như về thể
chất.
145. Bé ăn ngon miệng, ăn được. Tại sao?
Nhiều bà mẹ chỉ mong mỏi sao cho con ăn ngon miệng, ăn được.
Vấn đề này rất rộng và nên chuyển thành vấn đề: "Nuôi sao cho con khỏe th́ hơn.
Bởi v́ nhiều cháu có tính khó ăn, ăn ít nhưng sức khỏe vẫn tốt. Thế là được rồi.
Vấn đề Bé không chịu ăn đă được nói tới ở PHẦN TRÊN, PHẦN NHIỀU DO NGUYÊN NHÂN TÂM
LƯ.
ở phần này, chúng ta chỉ chú ư tới
: "Tại sao cháu ăn khỏe thế ?". Đối với các cháu nhỏ, việc cháu ăn được nhiều
không đáng mừng và cũng không đáng lo. V́ nếu ḍng dơi cháu có những người to
béo th́ cháu cũng có xu hướng ăn nhiều để thành to béo và mai sau, có thể thành
một người bụng phệ! Điều này cũng chẳng hay ǵ!
Nhưng nếu cháu ăn nhiều mà tạng người vẫn b́nh thường hay ốm
yếu th́ nên nghĩ ngay tới việc chữa trị cho cháu bệnh giun hoặc sán và có thể cả
bệnh tiểu đường nữa.
146. Bé không chịu ăn.
Hiện tượng trẻ em không có bệnh tật ǵ mà biếng ăn, hay không
chịu ăn phần lớn do nguyên nhân tâm lư chứ không phải Bé bị bệnh. Đối với các
trẻ sơ sinh cũng vậy. Vấn đề này có liên quan tới một sự rối loạn nào đó trong
quan hệ giữa mẹ và con.
Trước hết, chúng ta không nên xếp vội các cháu sau đây vào
loại biếng ăn:
- Các cháu có tính ăn thất thường, khi nhiều, khi ít một cách
tự nhiên.
- Các cháu hay ăn vặt, lúc đến bữa, vẫn ăn nhưng ăn ít.
Trên thực tế, nếu cộng cả các lần ăn vặt vào bữa chính, th́
các cháu ăn thế là đủ rồi.
Các cháu đáng được để ư săn sóc, có các hiện tượng sau :
- Bỗng nhiên bỏ ăn hay biếng ăn, có vẻ mệt, sốt, đau bụng
v.v...;
- Các cháu từ 6 - 18 tháng tuổi bị đau họng; sau khi tiêm
chủng; sắp mọc răng hay đang mọc răng;
- Các cháu vừa cai sữa mẹ.
Ngoài ra, các bà mẹ cũng nên để ư tới các nguyên nhân sau có
ảnh hưởng tới việc ăn của các cháu, như: thay đổi loại sữa hoặc thức ăn mà các
cháu không ưa, dùng th́a, muỗng để cho bé ăn to quá, cho ăn kiểu nhồi nhét làm
Bé sợ, đang ăn lại lau miệng, làm vệ sinh làm cháu mất hứng thú.
Với các cháu đă biết nhận xét, việc thay đổi người cho ăn,
cách đối xử với các cháu khi ăn như nựng nịu khuyến khích hay đe dọa, mắng cháu
đều có ảnh hưởng, hoặc làm cho cháu chịu ăn hay bỏ ăn.
Các bà mẹ cũng không nên quá máy móc về giờ giấc. Cháu bé
đang ngủ không nên đánh thức dậy để cho ăn hoặc buổi tối, nếu cháu khóc có thể
cho cháu bú thêm một ít ngoài bữa chính. Nói chung, KH?NG N? :
- Bắt buộc cháu ăn, hoặc phải ăn hết;
- Không cần quá chính xác về thời gian của bữa ăn;
- Để các cháu ăn tự nhiên, trong khi ăn không quấy rầy các
cháu về những săn sóc vệ sinh như lau miệng, lau mặt, lau tay.
N? :
- Để cho các cháu ăn tự nhiên, v́ ham thích;
- Cho ăn ít hơn khả năng ăn của Bé một ít để nuôi dưỡng xu
hướng thèm ăn, rồi dần dần tăng lên trong các bữa sau;
- NÊN CHO ĂN Ở chỗ tĩnh mịch, không có tiếng động hay nhiều người qua lại, làm các
cháu không chăm chú tới việc ăn. Nếu các cháu vẫn lớn đều về chiều cao th́ việc
các cháu phát triển hơi chậm về số cân nặng cũng là chuyện b́nh thường.
Làm cho các cháu khỏi biếng ăn chủ yếu là vấn đề tâm lư, t́m
cách khuyến khích cho các cháu ăn là tốt nhất. Các bác sĩ nếu được yêu cầu khám
bệnh cho các cháu biếng ăn thường làm những công việc có tính cách "thủ tục" như
: xét nghiệm máu để đo số hồng huyết cầu, thử phân để xem có bệnh đường tiêu hóa
hay không, thử các phản ứng về bệnh lao v.v... ,
147. Không phát triển đủ khi mới sinh.
Một số cháu bé sinh ra thiêu cân (dưới 2.500g), và không đủ
chiều cao. Sự kém phát triển này đă xảy ra khi đứa trẻ c̣n ở TRONG BỤNG MẸ. KHÁC VỚI TRẺ ĐẺ NON BỊ
thiếu cân do sinh ra không đủ tháng, hiện tượng này có thể có nhiều nguyên nhân
: trong thời gian mang thai mẹ bị bệnh hoặc bị ngộ độc v́ dùng thuốc có nhiều
độc tố, v́ nghiện nặng thuốc lá v.v... Cũng có thể v́ có sự bất THƯỜNG Ở
NHAU THAI.
148. Thiếu cân.
Một số cháu bé không phát triển đầy đủ so với độ tuổi, đặc
biệt là về trọng lượng. Nếu không phải v́ nguyên nhân thiếu ăn th́ phần lớn là
v́ Bé bị bệnh kéo dài như : viêm tai giữa, viêm đường tiết niệu...; tim, thận có
chỗ bị dị dạng bẩm sinh, bị bệnh đường tiêu hóa như rối loạn tiêu hóa, rối loạn
về khả năng hấp thụ của ruột đối với một số thực phẩm...
149. Bé gầy hoặc càng ngày càng gầy.
Gầy không phải là bệnh. Nếu cháu có tạng gầy th́ không phải
lo. Nhưng, nếu cháu đang b́nh thường, bỗng bị gầy đi th́ đó là một đấu hiệu cần
chú ư.
Nếu cháu bé gầy, không lớn hoặc lớn chậm th́ bố mẹ cháu cần
suy nghĩ để trả lời 2 câu hỏi sau ;
1 Thuở nhỏ (như bé, ḿnh có gầy như thế không?
2. Tuy gầy như vậy, nhưng cháu có ăn được, ngủ được, có vẫn
nô đùa vui vẻ như các trẻ khác không ?
Nếu câu trả lời là :
- CÓ: TH̀
không có ǵ đáng lo ngại. V́ "tạng" người của cháu là như vậy, giống như tạng
của bố mẹ.
- KH?NG:
TH̀ có thể v́ các nguyên nhân như: ăn chưa đủ chất, ăn không đúng giờ giấc, chế
độ, ngủ không đẫy giấc, ăn, ngủ không đủ để bồi lại sức tiêu hao lúc Bé hoạt
động.
Nếu Bé bị gầy một cách bất thường quá th́ cũng nên nghĩ tới
một số bệnh như bệnh tiểu đường chẳng hạn.
150. Tái mặt đột ngột.
Đứa trẻ bỗng tái mặt đi rồi lại b́nh thường trở lại. Tại SAO
? CÓ ĐIỀU G̀ LÀM BÉ SỢ hoặc
Bé bị lạnh chăng ?
Nếu thế phải sưởi ấm cho Bé ngay. Sắc mặt Bé sẽ hồng trở lại.
Có trường hợp Bé ho, ngạt mũi và được nhỏ thuốc vào lỗ mũi để
làm co niêm mạc, cũng làm sắc mặt Bé tái đi trong chốc lát.
C̣n những trường hợp như sau, cần phải hỏi bác sĩ:
KHôNG Rơ Lư DO Ǵ, MặT Bé BỗNG TáI ĐI Và Bé Bị NGấT - Phải gọi bác sĩ hoặc đưa Bé tới bệnh viện ngay. Vậy điều ǵ có
thể đă xảy ra ?
Bé có thể đă uống một thứ ǵ hoặc thuốc độc đối với BÉ, MÀ TA
KHÔNG BIẾT (COI TRƯỜNG HỢP NGỘ ĐỘC). CHÂN TAY
BÉ ĐĂ CÓ LÚC CO QUẮP LẠI MÀ TA CŨNG KHÔNG HAY.
NếU Bé TỉNH NHƯNG Có Vẻ Bị "CHOáNG", CHÂN tay LạNH, vẻ MặT sợ
Hăi - Có thể Bé bị ngộ độc hoặc bị đau do một vết
thương nào đó. Trong khi chưa có bác sĩ, hăy đặt Bé nằm thẳng trên giường, đầu
hơi thấp hơn chân và sưởi ấm hoặc chườm nóng cho cháu, mỗi bên người một chai
nước nóng để ngoài chăn và cẩn thận để không làm cháu bị bỏng.
Cũng có thể đây là dấu hiệu của sự xuất huyết nội: hiện tượng
này có thể đă xảy ra trước đó hàng giờ hoặc trước nhiều ngày do MỘT VA CHẠM MẠNH
LÀM THƯƠNG TỔN TỚI THẬN HOẶC LÁCH.
Bé THƯờNG Bị TáI MặT LUóN Như THế -
RƠ RÀNG LÀ HIỆN TƯỢNG NÀY
không phải do Bé bị xúc cảm mà do nguyên nhân phức tạp hơn. Cần phải cho Bé tới
bác sĩ.
151. Chậm biết đi.
Biết đi là một giai đoạn quan trọng trong đời sống của một
đứa trẻ, đánh dấu một sự phát triển tốt về các mặt cơ thể, tâm lư và t́nh cảm.
Những điều kiện cần phải có để cháu bé biết đi bao gồm: bộ
xương đủ cứng cáp, các cơ bắp, hệ thống thần kinh và nhất là bộ năo đă phát
triển được b́nh thường tới mức nào đó do quá tŕnh được nuôi dưỡng đầy đủ với
thức ăn giàu về prôtêin và vitamin, sự săn sóc về mặt tâm lư và t́nh cảm cũng có
vai tṛ quan trọng kích thích đứa bé cố gắng trong việc tập đi.
TRẺ EM THƯỜNG BẮT ĐẦU TẬP ĐI Ở độ tuổi từ 12 tới 14 tháng. Nhưng cũng tùy vào thể trạng từng cháu,
mà thời gian này có thể xê dịch từ tháng thứ 10 tới 18. Nếu sau 20 tới 22 tháng
tuổi mà cháu vẫn chưa biết đi, chúng ta mới nên lo rằng cháu chậm biết đi:
Việc chậm biết đi của trẻ em có thể do các cháu đă trải qua
một thời gian bị ốm, dù chỉ là những căn bệnh ngắn ngày và không trầm trọng như
viêm xoang, họng, đau tai v.v... Người cháu bé mập mạp quá cũng là một nguyên
nhân làm cháu bé biết đi chậm hơn các cháu khác một vài tuần hoặc một vài tháng.
Nhiều cháu ham thích ḅ hay lết nên cũng quên lăng việc tập đi.
Các cháu chưa biết đi sau tháng thứ 18 cần được chú ư: CHÁU
CÓ BỊ DỊ TẬT Ở ĐOẠN xương
chân nào không, nhất là đoạn khớp với xương hông. Ngoài ra cũng phải chú ư tới
hệ cơ bắp bị chứng teo cơ bắp chân hoặc một số các bệnh về cơ bắp khác không.
Ngoài ra, các bệnh về hệ thống thần kinh và cột sống mắc phải sau khi sinh, hoặc
do bẩm sinh đều có ảnh hưởng tới khả năng giữ người được cân bằng hoặc làm chân
bị liệt khiến đứa trẻ không đi được b́nh thường.
Nếu trí khôn cháu bé phát triển b́nh thường mà lại chậm biết
đi th́ cháu có thể bị thương tổn ở năo ảnh hưởng tới việc điều khiển vẫn động
của cơ thể. Nhiều phương pháp luyễn tập đặc biệt có thể áp dụng trong những
trường hợp này để giúp các cháu vượt qua được những khó khăn khi tập đi.
Nếu những nguyên nhân trên đều không có mà cháu bé lại chậm
biết đi th́ nên tới vấn đề thiếu chất vitamin D trong các chất dinh dưỡng hoặc
không được người lớn săn sóc đầy đủ và chú ư khuyến khích cháu bé tập đi khi đă
tới độ tuổi.
152. Chậm biết nói.
Sau 3 năm tuổi mà cháu bé chưa bập bẹ nói được 2 âm khác
nhau, th́ bố mẹ phải chú ư:
Trước hết phải nhờ bác sĩ thử xem cháu bé có nghe được không.
Rất có thể, cháu bị điếc nhẹ, bị thương tổn một phần tai thôi mà người lớn không
biết.
Sau đó, phải kiểm tra xem cháu có bị tật ǵ không bằng cách
quan sát các cử chỉ, động tác, ứng xử cua cháu bé khi cháu chơi đùa. Bác sĩ có
thể có các cách thử theo phương pháp chuyên môn để kiểm tra về trạng thái tinh
thần của cháu bé .
Hiện tượng Bé chậm biết nói c̣n có thể là biểu hiện sự phát
triển chậm về nhận thức của Bé hoặc ảnh hưởng không có lợi của môi trường chung
quanh đối với cháu.
Nếu tất cả nhưng nguyên nhân trên đều được loại bỏ th́ chỉ
c̣n lại các vấn đề như: cháu bé không được người lớn khuyến khích nói, sự chú ư
săn sóc cháu chưa được đầy đủ v.v... Cháu cũng sẽ biết nói, nhưng cần phải chú ư
luyện tập cho cháu để khỏi gặp khó khăn khi cháu đến tuổi tới trường.
153. Mất tiếng nói.
Hiện tượng mất tiếng nói khác hiện tượng chậm biết nói. Cháu
bé vẫn phát triển trí khôn b́nh thường, nhưng bỗng nhiên cháu không chịu nói
nữa. Hiện tượng này có khi chỉ là tâm lư xảy ra khi cháu bé ở NGOÀI GIA Đ̀NH, NHƯ Ở TRƯỜNG CHẲNG hạn.
Cháu có đủ trí khôn, nhưng v́ cảm động, nhút nhát nên không thể hiện được nhưng
ư nghĩ của ḿnh.
Khi cháu chế ngự được nhưng cảm xúc của ḿnh th́ cháu lại nói
được: đó là hiện tượng "không nói được có điều kiện".
Hiện tượng không chịu nói hoàn toàn xảy ra khi có một cú sốc
t́nh cảm đột ngột. Cháu có thể bỏ cả ăn và không kiềm chế được việc tiểu tiện ra
quần.
Vài ngày hoặc vài tuần sau sự kiện làm cháu bé xúc động đột
ngột, cháu có thể lại nói được một cách chậm chạp.
Những yếu tố làm cháu bé không nói c̣n có thể do môi trường
đă gây cho cháu thái độ thờ ơ, không quan tâm tới cuộc sống và mọi người chung
quanh.
154. Nói lắp (cà lăm).
TẬT NÓI LẮP THƯỜNG GẶP Ở con trai từ 3 - 5 tuổi. Người ta cho rằng các cháu này nghĩ nhanh
hơn nói, trong lúc chưa đủ từ vựng để diễn đạt ư nghĩ của ḿnh. Hiện tượng các
cháu vẫn duy tŕ tật nói lắp khi đă lớn, người ta chưa giải thích được có thể
tính nhút nhát, dễ cảm động có ảnh hưởng rất nhiều tới tật này.
Người ta phân biệt 2 loại nói lắp: lắp đi lắp lại một TRỌNG
ÂM TRONG CÂU HAY LẮP NGAY Ở âm đầu khi bắt đầu nói. Hoặc phối hợp cả 2 loại.
Một người nói lắp cũng biểu thị trạng thái tinh thần không
b́nh thường, có thể có quan hệ căng thẳng với gia đ́nh và những người xung
quanh. Một cháu bé nói lắp thường có cử chỉ ngượng nghịu, lúng túng. Sợ BỊ TRÊU GHẸO, CHẾ GIỄU CŨNG LÀ MỘT
nguyên nhân góp phần tạo ra tật nói lắp.
Để chữa bệnh nói lắp cho các cháu, nên nhờ các nhà giáo
chuyên dạy về phát âm, đồng thời động viên các cháu về mặt tầm lư.
155. Khả năng phát âm hạn chế (Nói đớt).
Nhiều cháu bé phát âm không rơ hoặc không phát âm đúng MỘT SỐ
ÂM NHƯ R, L, N. .. V̀ CÓ TẬT Ở LƯỠI HOẶC LƯỠI KHÔNG Ở ĐÚNG VỊ TRÍ. CÓ người lại cho nguyên nhân là tại răng.
Ngày nay, người ta cho rằng việc cháu bé chỉ có khả năng hạn
chế về phát âm như thế, xảy ra trước khi có những hiện tượng bất thường về răng,
và có thể tránh được hoặc chữa khỏi nếu cháu bé được luyện tập từ khi 4 - 5 tuổi
về động tác uốn lưỡi.
l56. Tật sử dụng tay trái.
Nhiều trẻ em có thói quen đặc biệt, sử dụng tay trái nhiều
hơn tay phải nên làm việc ǵ cũng thuận tay trái hơn, tuy rằng vẫn ngắm nh́n
thuận mắt phải (nhắm mắt trái lại), hoặc đá bóng chân phải mạnh hơn chân trái.
Để khuyến khích cháu bé sử dụng tay phải, người lớn nên để các đồ dùng hàng ngày
bên tay phải của cháu như th́a ăn, bút viết v.v... Nhưng nếu cháu vẫn sử dụng
bằng tay trái th́ người lớn cần nhận xét xem cấu tạo cơ thể của cháu bé có điều
ǵ thể hiện là thiên về bên trái không, như mắt trái tốt hơn, tay chân trái khỏe
hơn... và bàn bạc với bác sĩ để cho cháu sử dụng bên tay trái là chính. Ngày
nay, người ta không khắt khe với những cháu thuận tay trái, v́ xét cho cùng, thế
giới này không có định luật nào đặc biệt chỉ dành mọi thứ thuận lợi cho những
người thuận tay phải. Một người cầm bút viết bằng tay trái chưa chắc sẽ v́ thế
mà gặp nhiều trắc trở trong cuộc sống.
Tuy vậy, nếu cháu bé đang sử dụng hai tay như nhau, th́ các
bà mẹ nên hướng cho cháu sử dụng cho quen bàn tay phải như đa số chúng ta.
157. Những động tác bất thường.
CÓ NHỮNG
cháu bé hoàn toàn khỏe mạnh nhưng lại có những động tác bất thường như lắc lư
đầu từ trái qua phải, hoặc gật đầu như người chào hàng giờ đồng hồ . Lại có
những cháu có thói quen đập đầu xuống giường hoặc đưa tay sờ bộ phận sinh dục
của ḿnh khi sắp ngủ.
Nhiều nhà chuyên môn cho rằng để chữa những hiện tượng này Ở
CÁC CHÁU, NGƯỜI LỚN NÊN chú ư t́m hiểu các cháu về mặt tâm lư như có phải cháu
cảm thấy ḿnh không được săn sóc đầy đủ không, cháu có ghen tị với anh, chị, em
về việc ǵ không, cháu có phải ức chế trong người ḿnh một t́nh cảm ǵ, một nỗi
buồn hoặc nỗi sợ ǵ mà cháu không nói được ra không ? Trong những trường hợp như
vậy th́ bố mẹ chỉ cần tăng cường an ủi, âu yếm cháu làm cháu yên tâm là các hiện
tượng trên sẽ giảm hoặc hết ngay.
Nhiều bậc cha mẹ đă nhờ các chuyên viên tâm lư tiếp xúc với
các cháu bé để t́m nguyên nhân và phương pháp chữa trị .
Nhưng phần lớn trường hợp không phải chữa trị ǵ, khi các
cháu tới độ từ 2 tới 4 tuổi, các hiện tượng trên cũng sẽ hết.
Đôi khi, có thể cho cháu uống thuốc an thần theo đơn và sự
chỉ định của bác sĩ, cũng có nhiều hiệu quả.
158. Chứng co giật cơ bắp.
CHỨNG CO GIẬT CƠ BẮP ÍT THẤY Ở trẻ em từ 3-4 tuổi trở xuống. Chứng này có những biểu hiện co giật
cơ bắp trong thời gian ngắn, xảy ra bất chợt, hay lặp đi lặp lại nhiều khi không
cố ư như: nháy mi mắt ia lịa, chép miệng, lắc đầu, lắc cố, lắc vai liên tục
v.v...
Những biểu hiện này có thể do nguyên nhân thần kinh bị căng
thẳng, v́ lo ngại một điều ǵ. Những cử chỉ chép miệng, lắc đầu, oằn người chỗ
đông, nhiều khi làm cho những người xung quanh thấy khó coi.
Không có thuốc chữa trị chứng này. Chủ yếu là người đang có
những hiện tượng co giật phải chủ động b́nh tâm và tự chủ. Các cơn co giật rồi
sẽ qua đi.
Những trường hợp nặng cần phải có sự giúp đỡ của bác sĩ tâm
lư về thần kinh.
159. Chứng tự kỷ và loạn tâm thần.
Tự kỷ là h́nh thức nghiêm trọng nhất của rối loạn tâm thần Ở
TRẺ EM, CÓ ĐẶC ĐIỂM LÀ đứa trẻ tự tách rời với thực tế và môi trường chung
quanh. Đứa trẻ mới sinh không thể hiện rơ bệnh, nhưng từ tháng thứ 18 trở đi,
cha mẹ và những người săn sóc cháu có thể thấy rơ các triệu chứng của bệnh.
Cháu bé lúc nào cũng có vẻ thờ ơ, không chú ư ǵ tới cuộc
sống và các hoạt động chung quanh, không đáp lại sự săn sóc của người lớn bằng
nét mặt, cách nh́n hay nụ cười.
Các hoạt động tay chân thường không liên quan ǵ với nhu cầu
thực tế, lặp đi lặp lại như máy, như các cử chỉ của những con rối, hai cánh tay
đung đưa, nhiều khi không ăn nhịp với thân thể. Cháu vẫn lớn nhưng trí khôn tŕ
trệ, kém phát triển, không nói được hoặc nói không ra câu, khó ḥa nhập với xă
hội. Nguyên nhân của bệnh, cho tới nay vẫn chưa được XÁC ĐỊNH RƠ RẰNG. TỪ 20 NĂM
NAY, NGÀNH Y HỌC VẪN DỪNG LẠI Ở CÁC ĐIỂM DỰ đoán: rối
loạn sinh hóa của cơ thể, dị dạng nhiễm sắc thể và một số hội chứng cần phải
nghiên cứu thêm. Đi t́m các phương pháp chữa trị , người ta đặc biệt chú ư về
mặt tâm lư của các cháu bị bệnh hoặc phải sống xa cách với xă hội, hoặc cùng
sống chung nhưng lại bị các bạn cùng lứa tuổi chế giễu, trêu chọc.
160. Mút tay.
Trẻ sơ sinh mút tay là việc b́nh thường. Người ta thấy nhiều
cháu bé mới sinh đă có ngón tay cái ứng đỏ v́ các cháu mút tay từ trong bụng mẹ.
Tuy vậy, trẻ mút tay cũng là một tín hiệu để bà mẹ chú ư xem cháu đă được ăn đủ
chưa. Mỗi lần cháu bú tí mẹ phải lâu khoảng 15 phút th́ cháu mới đủ no. Hoặc nếu
cháu bú b́nh, th́ phải kiểm tra lại xem NHỮNG CÁI LỖ Ở
NÚM VÚ CAO su có lớn quá hay nhỏ quá không? V́ lỗ lớn sẽ làm cháu sợ v́ sữa ra
nhiều làm cháu sặc, mà nhỏ quá th́ cháu phải ra sức mút mà sứa vẫn ra ít, làm
cháu mệt. Sau này, khi lớn lên thêm một chút nữa, các cháu cũng hay mút tay KHI
NGỦ, DƯỜNG NHƯ CÓ LÀM VẬY MỚI YÊN TÂM.
Tử CAI SữA TớI 6 TUỔI - CỨ 3 CHÁU TH̀ CÓ 1 CHÁU MÚT NGÓN
TAY Ở ĐỘ TUỔI TỪ 1 CHO tới 4
tuổi. Các cháu hay mút ngón tay trước khi ngủ: khi cháu không có ǵ để chơi, khi
cháu thấy người khó chịu hay đang mọc răng; khi mẹ lại sinh một em nữa làm cho
cháu có ư nghĩ ḿnh bị bỏ rơi; khi các cháu được chiều chuộng quá hoặc ngược
lại, khi người lớn tỏ ra nghiêm khắc đối với cháu.
NGƯờI LớN PHảI LàM Ǵ ? Nên b́nh
tĩnh và yên tâm chờ đợi, khuyên bảo nhẹ nhàng. Các cháu mút tay như thế có ảnh
hưởng tới răng sau này không? Không. V́ răng của các cháu ở TUỔI NÀY CHỈ LÀ RĂNG SỮA, SẼ RỤNG ĐỂ ĐỔI
CÁC RĂNG VĨNH VIỄN KHÁC.
SAU 6
TUỔI - Cháu bé đă hơn 6 tuổi c̣n ngậm ngón tay có thể do thói quen trước
khi ngủ, hoặc cũng có thể là một vấn đề tâm lư. Cháu muốn trở lại thời kỳ mấy
năm về trước: hồi đó cháu chưa phải tới trường, ngồi trong các lớp học có kỷ
luật nghiêm khắc và những bài tập viết khó khăn, mệt nhọc như hiện nay. Bạn hăy
cố t́m hiểu tâm tư cháu, an ủi, khuyến khích cháu. Nếu bạn làm cho cháu tự hào
với độ tuổi của cháu, cháu sẽ tự động BỎ MÚT TAY NGAY.
ở tuổi này, các răng vĩnh viễn đă
mọc. Bởi vậy, việc mút ngón tay có thể ảnh hưởng tới sự đều đặn và h́nh dáng của
cả hàm răng. Nếu có hiện tượng đó rồi, (thí dụ hàm răng trên hoặc dưới có vẻ nhô
ra), nên đưa cháu tới bác sĩ khoa răng hàm mặt để CHỈNH HÀM CHO CHÁU.
N? LàM Ǵ Để CáC CHáU KHỏI MúT TAY ? Nên động viên khuyến khích các cháu là chính. Không nên dùng các
phương pháp thô bạo như: buộc tay, bặt đeo găng tay hoặc bôi các chất đắng vào
ngón tay.
161. Nhai lại.
Một số trẻ kể cả trẻ sơ sinh và trẻ đă lớn - có thói quen Ợ
THỨC ĂN LÊN MIỆNG RỒI nhai, giống như loài nhai lại. Nguyên nhân có thể do các
cháu bị rối loạn nhẹ về các phản ứng t́nh cảm.
Nếu thấy cháu bị gầy đi, các bà mẹ nên cho bác sĩ biết v́ tật
nhai lại này nhiều khi cần phải cho các cháu nằm bệnh viện hoặc chữa trị bằng
phương pháp giáo dục.
162. Nôn ói.
Các cháu mới sinh thường hay ói. Có nhiều nguyên nhân. Người
lớn coi sóc các cháu nên chú ư xem cháu bị nôn ói trong trường hợp nào, có kèm
theo các triệu chứng ǵ không th́ mới xác định được là hiện tượng này không quan
trọng hoặc đáng lo ngại. Hiện tượng nôn ói có thể như sau :
* Đang khỏe mạnh bỗng nôn ói kèm sốt, tiêu chảy: có thể do bị
bệnh thuộc loại tai-mũi-họng, hoặc v́ các chất tiêu hóa di chuyển ngược CHIỀU Ở
ĐOẠN DẠ DÀY - ruột; bị đau màng óc; viêm niệu đạo v.v... Nôn ói sẽ dẫn tới hiện
tượng cơ thể thiếu nước.
* Bỗng nhiên bị nôn ói, không sốt nhưng không muốn uống, bị
đau bụng không đi tiêu được: có thể bị rối loạn tiêu hóa hoặc lồng ruột, tắc
ruột. Cần tới bác sĩ ngay.
* Bị nôn nhiều lần, bị đi bị lại, ngưng tăng cân: viêm tai
hay viêm niệu đạo.
* Mới sinh được vài tuần đă bị nôn ói: cần chiếu X-quang để
xem môn vị có bị hẹp không. Nếu cần phải phẫu thuật.
Phần lớn các cháu bé nôn ói v́ thức ăn chuyển động ngược LẠI
Ở ĐOẠN THỰC QUẢN - DẠ dày.
Các cháu nhỏ thường nôn ói v́ động cơ tâm lư, làm nũng mẹ.
Các cháu lớn hơn nếu bị nôn ói kèm theo đau bụng và sốt có
thể do các bệnh đau ruột thừa, đau màng óc, viêm gan...
163. Béo bệu.
Các cháu Bé béo bệu (mập ú) là v́ ăn nhiều quá. Cũng có các
cháu là con cháu những gia đ́nh có nhiều người béo mập, nhưng nếu người lớn béo
như vậy th́ cũng là do ăn nhiều quá mức mà thôi. Bởi vậy, để các cháu khỏi béo
bệu, nên có chế độ ăn vừa đủ theo sự hướng dẫn của bác sĩ.
Sự béo quá của các cháu, nhất là các cháu nhỏ, không có lợi
cho sức khỏe. Đối với các cháu lớn, chúng ta nên chú ư rằng lượng thức ăn cháu
ăn hàng ngày phải kể tới cả những lần cháu ăn quà vặt nữa, để rút bớt lượng thức
ăn trong các bữa chính đi.
Việc chữa béo cũng khó v́ cần có sự quyết tâm và tự nguyện
của người béo, có đủ tinh thần chống cự cám dỗ của thức ăn cùng sự giúp đỡ và hỗ
trợ của các người thân chung quanh.
164. Tật nguyền.
Một cháu bé không may có thể bị tật nguyền làm giảm trí thông
minh, giảm sức lực, giảm khả năng cảm giác của mắt, tai v.v...
NHữNG DấU HIệU BáO ĐộNG - Để ngăn
ngừa các tật nguyền, các bác sĩ thường yêu cầu bố mẹ các cháu nhỏ phải chú ư
phát hiện những triệu chứng lạ, đáng báo động của các cháu trong thời gian sớm
nhất, ngay từ những tuần lễ đầu hay tháng đầu sau khi sinh.
Những triệu chứng này có thể khi có, khi không trong 3 tháng
đầu tiên nên phải theo dơi liên tục. Thí dụ các hiện tượng cổ của Bé quá yếu
không giữ được đầu thẳng, khó ngồi, khó đứng v.v...; các cử động tay chân, cử
động quay người, sự chú ư tới mọi hoạt động chung quanh, tới ánh sáng; mầu sắc
v.v.. có những biểu hiện khác thường. Hiện nay, người ta có nhiều phương pháp
phát hiện được các cháu bé bị yếu về một mặt nào đó NHƯ: NH̀N KÉM, NGHE KÉM,
KHÔNG CHÚ Ư ĐƯỢC V.V...
NếU CON ḾNH Bị TậT NGUYềN - Nên có
thái độ như thế nào? khi có đứa con bị tật nguyền, chính bố mẹ là người cần được
an ủi để chấp nhận sự việc và b́nh tĩnh nghĩ tới cách chữa trĩ và săn sóc cho
cháu bé sau này. Xă hội nào cũng có các tổ chức dành riêng CHO CÁC CHÁU NHƯ VẬY.
BỐ MẸ các cháu nên t́m hiểu
về các tổ chức này, để đưa các cháu tới sinh hoạt, không nên tách ḿnh hoặc tách
các cháu ra khỏi các hoạt động của cộng ĐỒNG. ĐÓ
LÀ CÁCH XỬ SỰ của những người bi quan, không có ích ǵ cho các cháu.
Trang sách này không thể nói hết mỗi trường hợp v́ có NHIỀU
LOẠI TẬT BỆNH. Ở NƯỚC nào
cũng có các địa chỉ các tổ chức như: Hội các phụ huynh có con bị tật nguyền;
Trung tâm các trẻ bị liệt; Hội cứu trợ các trẻ bị bệnh về cột sống, về thần kinh
v.v... rất có ích cho gia đ́nh các trẻ bị tật.
Việc săn sóc và chữa trị cho các trẻ tật nguyền phải dựa vào
nguồn tài chính của bố mẹ là chính. Nếu bố mẹ không đủ khả năng, họ có thể nhờ
sự giúp đỡ của các hội từ thiện để được hỗ trợ. Thường người ta phân biệt các
mức hỗ trợ dựa vào t́nh h́nh của cháu bé:
- Cháu cần phải có người săn sóc hàng ngày nhưng không cần
LÚC NÀO CŨNG PHẢI Ở LIỀN BÊN
CHÁU HOẶC PHẢI Ở LIỀN bên
cháu;
- Cháu bị tật nặng, cần phải được săn sóc bằng các phương
tiện kỹ thuật cao, thuốc thang đắt tiền;
- Tiền phí tổn bố mẹ các cháu có thể gánh được bao nhiêu? cần
được hỗ trợ một phần hay tất cả?
- BỐ MẸ
CÁC cháu có thể tham gia săn sóc các cháu không? có thể nghỉ việc để ở GẦN CÁC CHÁU KHÔNG?
165. Bị đối xử tệ.
Hiện nay, người ta quan niệm rằng một đứa trẻ bị đối xứ tồi
tệ căn cứ vào các hiện tượng sau: cháu bé bị đánh đập hoặc bị bỏ rơi, để cho
thiếu ăn, thiếu mặc, không được săn sóc về mặt tinh thần; bị lợi dụng t́nh dục.
Các tổ thức xă hội đă đề ra nhiều biện pháp để bảo vệ quyền
lợi của trẻ em và trao nhiệm vụ cho các ngành y tế và luật pháp để theo dơi và
phát hiện. Các tổ chức này thường chú ư đặc biệt tới các gia đ́nh có thể liên
quan tới vấn đề này.
MỤC LỤC
YKHOANET - Website Y Khoa Việt Nam
|