|
|
DINH DƯỠNG VÀ AN TOÀN THỰC PHẨM
CHƯƠNG I: DINH DƯỠNG VÀ SỨC KHOẺ
ĂN UỐNG và sức khỏe càng ngày càng được chú ư và
có nhiều nghiên cứu chứng minh SỰ LIÊN QUAN CHẶT CHẼ GIỮA ĂN UỐNG VÀ SỨC KHỎE. ăn
uống không chỉ là đáp ứng nhu cầu cấp thiết hàng ngày, mà c̣n là biện pháp để
duy tŕ và nâng cao sức khỏe và tăng tuổi thọ.
Vấn đề ăn đă được đặt ra từ khi có loài người, lúc đầu chỉ nhằm giải quyết
chống lại cảm giác đói và sau đó người ta thấy ngoài việc thỏa măn nhu cầu bữa
ăn c̣n đem lại cho người ta niềm vui. Ngày nay vấn đề ăn c̣n liên quan đến sự
phát triển và là yếu tố quan trọng cho sự phát triển cho cộng đồng, khu vực và
cả một đất nước. Đi đầu trong nghiên cứu vấn đề ăn uống và sức khỏe là các thầy
thuốc. Qua quan sát và nghiên cứu đă chứng minh nhiều yếu tố ăn uống liên
quan đến bệnh tật và sức khỏe.
I. LịCH Sử PHáT TRIểN CủA KHOA HọC DINH DƯỡNG
1. Những quan niệm trước đây:
Từ trước công nguyên các nhà y học đă nói tới ăn uống và cho ăn uống là một
phương tiện để chữa bệnh và giữ ǵn sức khỏe. Hypocrát (460-377) trước công
nguyên đă chỉ ra vai tṛ của ăn bảo vệ sức khỏe và khuyên phải chú ư, tùy theo
tuổi tác, thời tiết, công việc mà nên ăn nhiều hay ít, ăn một lúc hay rải ra
nhiều lần. Hypocrat nhấn mạnh về vai tṛ ăn trong điều TRỊ.
ÔNG viết "Thức ăn cho bệnh nhân phải là một phương tiện điều trị và trong phương
tiện điều trị của chúng ta phải có dinh dưỡng".
ÔNG CŨNG NHẬN XÉT "HẠN CHẾ VÀ ĂN THIẾU CHẤT BỔ RẤT NGUY
HIỂM ĐỐI VỚI NGƯỜI MẮC BỆNH MẠN TÍNH".
Ở NƯỚC TA TUỆ TĨ NH THẾ KỈ THỨ XIV TRONG SÁCH "NAM DƯỢC THẦN hiệu" đă
đề cập nhiều đến tính chất chữa bệnh của thức ăn và có những lời khuyên ăn uống
trong một số bệnh và ông đă phân biệt ra thức ăn HÀN NHIỆT. HẢI THƯỢNG LĂN ÔNG
MỘT DANH Y VIỆT NAM THẾ KỈ XVIII CŨNG RẤT CHÚ Ư TỚI VIỆC ĂN UỐNG CỦA NGƯỜI BỆNH.
ÔNG VIẾT
CÓ THUỐC MÀ THÔNG CÓ ĂN UỐNG TH̀ CŨNG ĐI ĐẾN CHỖ
chết. Đối với người nghèo không những
ông thăm bệnh, cho thuốc không lấy tiền mà c̣n trợ giúp cá gạo và thực phẩm cần
thiết cho người bệnh. Trong cuốn Nữ Công Thắng Lăm c̣n ghi 200 món ăn.
2. Các mốc phát triển của dinh dưỡng học:
Sidengai người Anh có thể coi là người thừa kế nhưng ư tưởng của Hypocrat,
ông đă cho rằng "Để nhằm mục đích điều trị cũng như pḥng bệnh trong nhiều bệnh
chỉ cần cho ăn những chế độ ăn thích hợp và sống một đời sống có tổ chức hợp lư,
Sidengai cũng chống lại sự mê tín thuốc men và yêu cầu lấy bếp thay pḥng bào
chế ". Cùng thời với ông c̣n có Hacvay một người t́m ra tuần hoàn máu trong cơ
thể. Hacvay cũng rất chú ư đến chế độ ăn (diet) trong đó c̣n một chế độ ăn hạn
chế mở trong một số bệnh đến nay được gọi là chế độ ăn Bentinh tên một bệnh nhân
của Hacvay sau khi ăn điều trị có kết quả đă tuyên truyền rất nhiêu chế độ ăn
này.
TỪ CUỐI THẾ KY XVII
những nghiên cứu về vai tṛ sinh năng lượng của thức ăn
với những công tŕnh của Lavoadie (1743-1794) đă chứng minh thức ăn vào cơ thể
được chuyển hóa sinh năng lượng.
Liebig (1803-1873) đă có những công tŕnh nghiên cứu chứng minh trong thức ăn
những chất sinh năng lượng là protein, lipit và gluxit. Đồng thời có Magendi
nghiên cứu vai tṛ của Protein rất quan trọng đối với sự sống sau này, năm 1838
Mulder đă đề nghị đặt tên chất đó là protein. Nhưng nghiên cứu về cân bằng năng
lượng Voit (1831-1908) của P.Rubner (1854-1932) đă chế tạo ra buồng đo nhiệt
lượng và chứng minh được định luật bảo toàn năng lượng áp dụng cho cơ thể sống.
Những nghiên cứu về vitamin mở đầu gắn liền với bệnh hoại huyết của thủy thủ
mà Giem Cook đă khuyên là chế độ ăn của thủy thủ cần uống nước chanh hoa quả
(1728-1779). Sau đó là những nghiên cứu của Eikman (1858-1930) đă t́m RA NGUYÊN
NHÂN CỦA BỆNH BERIBERI VÀO NĂM 1886 Ở đảo Java Indonexia sau đó 30 năm,
năm 1897 J.A.Funk đă t́m ra chất đó là vitamin B1. Tiếp theo các công tŕnh
nghiên cứu Bunghe và Hopman nghiên cứu về vai tṛ của muối khoáng .
NOOCDEN NĂM 1893 TỔ CHỨC Ở
Beclin lớp học cho các bác sĩ về vấn đề chuyển hóa, vấn đề
ăn cho bệnh nhân. Cùng thời gian này (1897) Páplốp đă xuất bản Bài giảng về
hoạt động của các tuyến tiêu hóa chính. Công tŕnh của nhà sinh lư học thiên
tài Nga đă đặt ra trước thế giới con đường hoàn toàn mới mẻ và độc đáo về cách
thực nghiệm và lâm sàng trong lĩnh vực sinh lư và bệnh lư bộ máy tiêu hóa và có
một ảnh hưởng rất lớn trong phát triển ngành dinh dưỡng.
Từ cuối thế kỷ 19 tới nay, những công tŕnh nghiên cứu về vai tṛ của các
axít amin các vitamin, các axit béo không no, các vi lượng dinh dưỡng ở PHẠM VI TẾ BÀO, TỔ CHỨC và toàn cơ thể đă góp phần
h́nh thành, phát triển và đưa ngành dinh dưỡng lên thành một môn học. Cùng với
những nghiên cứu về bệnh suy dinh dưỡng protein năng lượng của nhiều tác giả như
Gomez 1956, Jelliffe 1959, Welcome 1970, Waterlow 1973. Những nghiên cứu về
thiếu vi chất như thiếu vitamin A VÀ BỆNH KHÔ MẮT (BITOT 1863, M. Collum 1913,
Block 1920 ), thiếu máu thiếu sát, thiếu kẽm cũng có nhiều nghiên cứu giải thích
mối quan hệ nhân quả và các chương tŕnh can thiệp ở cộng đồng. Không những chế
với sự phát triển của ngành dinh dưỡng và y học cộng đồng hướng tới sức khỏe cho
mọi người dân đến năm 2000 đă có cả MỘT CHƯƠNG TR̀NH HÀNH ĐỘNG VỀ DINH DƯỠNG.
II. Mối quan hệ giữa dinh dưỡng và khoa học thực phẩm
Những nghiên cứu dinh dưỡng cơ bản đă có những phát triển đáng kể, đưa ra
được nhu cầu đề nghị thích hợp. Tuy nhiên để đáp ứng được nhu cầu dinh dưỡng cho
mọi người cần có sự phối hợp liên ngành để đảm bảo cung cấp lương thực và thực
phầm đáp ứng nhu cầu. Trước tiên là giải quyết vấn đề sản xuất nhiều lương thực
và thực phẩm, giải quyết vấn đề lưu thông phân phối, giải quyết việc làm, tăng
thu nhập để đảm bảo khả năng mua thực phẩm, đảm bảo an toàn thực phẩm cho cá
thể, gia đ́nh, cộng đồng, khu vực và toàn xă hội.
Trong các hội nghị quốc tế về dinh dưỡng người ta đă khẳng định việc phối hợp
giữa dinh dưỡng và ngành nông nghiệp, chế biến thực phẩm và ngành kinh tế học để
tiến hành các can thiệp dinh dưỡng có hiệu quả. Ngày nay việc phối giữa dinh
dưỡng và thực phẩm được thể hiện qua khoa học "Dinh dưỡng ứng dụng" ( Applied
nutrltion ). Khoa học dinh dưỡng ứng dụng bao gồm từ việc nghiên cứu tập tục ăn
uống, mức tiêu thụ lương thực thực phẩm đến các chương tŕnh và biện pháp sản
xuất bảo quản, chế biến, lưu thông phân phối, và chính sách giá cả thực phẩm
nhằm nâng cao và cải thiện bữa ăn, kể cả các biện pháp kinh tế, quản lư nhằm tạo
ra kết quả thanh toán nạn đói, giảm tỉ lệ suy dinh dưỡng, nâng cao t́nh trạng
dinh dưỡng kinh tế nhất và phù hợp với khả năng kinh tế của cộng đồng, khu vực
và quốc gia.
Dinh dưỡng ứng dụng cũng đề cập tới vấn đề giáo dục dinh dưỡng cung cấp kiến
thức về dinh dưỡng và ăn uống hợp lư để có sức khỏe, cũng như kiến thức chăm sóc
và nuôi dưỡng trẻ pḥng tránh các bệnh thiếu dinh dưỡng. Trong dinh dưỡng ứng
dụng việc tiến hành theo dơi và giám sát t́nh H̀NH DINH DƯỠNG VÀ THỰC PHẨM Ở
các địa phương để phát hiện những vấn đề dinh dưỡng thực
phẩm để có những biện pháp can thiệp kịp thời. Để có được những hoạt động dinh
dưỡng có hiệu quả, những kiến thức dinh dưỡng cũng ngày càng được sáng tỏ phân
tích mối liên quan giữa dinh dưỡng và sức khỏe, các kiến thức về nhu cầu dinh
dưỡng, mối liên quan của các yếu tố v́ chất dinh dưỡng và bệnh tật, mối quan hệ
giữa các axit béo chưa no với các bệnh mạn tính...
Để giải quyết những vấn đề lớn của thiếu dinh dưỡng ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN VÀ THỪA DINH DƯỠNG Ở
các nước phát triển cần có sự phối hợp của nhiều NGÀNH. ĐÓ
LÀ sự phối hợp giữa các ngành y tế, nông nghiệp kế hoạch, kinh tế, xă hội học,
giáo dục trên cơ sở thực hiện một chương tŕnh dinh dưỡng ứng dụng thích hợp đáp
ứng nhu cầu dinh dưỡng, phù hợp với điều kiện kinh tế, và dựa vào t́nh h́nh sản
xuất lương thực, thực phẩm cụ thể ở các vùng sinh thái.
III. NHữNG VấN Đề DINH DƯỡNG LớN HIệN NAY
VỀ MẶT DINH DƯỠNG, THẾ GIỚI HIỆN NAY ĐANG SỐNG Ở hai thái cực trái ngược nhau hoặc
bên bờ vực thẳm của sự thiếu ăn, hoặc bên bờ vực thẳm của sự thừa ăn. Trên thế
giới hiện nay vẫn c̣n gần 780 triệu người tức là 20% dân số của các nước đang
phát triển không có đủ lương thực, thực phẩm để đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng cơ
bản hàng ngày. 192 triệu trẻ em bị suy dinh dưỡng protein năng lượng và phần lớn
nhân dân các nước đang phát triển bị thiếu VI CHẤT; 40 TRIỆU TRẺ EM BỊ THIẾU
VITAMIN
A gây khô mắt và có thể dẫn tới mù ḷa, 2000 triệu người
thiếu sắt gây thiếu máu và 1000 triệu người thiếu iốt trong đó có 200 triệu
người bị bướu cổ, 26 triệu người bị thiểu trí và rối loạn thần kinh và 6 triệu
bị đần độn. Tỷ lệ trẻ sơ sinh có cân nặng dưới 2,5 kg ở CÁC NƯỚC PHÁT TRIỂN LÀ 6% TRONG KHI Ở các nước đang phát
triển lên tới 19%. Tỷ lệ tử vong có liên quan NHIỀU ĐẾN SUY DINH DƯỠNG Ở
các nước phát triển chỉ có 2% trong khi đó ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT triển là 12% và các nước kém phát
triển tỷ lệ này lên tới 20% (Tỷ lệ này được tính với 100 trẻ sinh ra sống trong
năm).
THEO ƯỚC TÍNH CỦA FAO
sản lượng lương thực trên thế giới có đủ để đảm bảo nhu
cầu năng lượng cho toàn thể nhân loại. Nhưng vào những năm cuối của thập kỷ 80
mới có 60% dân số thế giới được đảm bảo trên 2600 Kcal/người/ngày và vẫn c̣n 11
quốc gia có mức ăn quá thấp dưới 2000 Kcalo/người/ngày.
Hậu quả của nạn thiếu ăn về mặt kinh tế rất lớn. Theo cuốn sách "Giá trị cuộc
sống", nếu một người chết trước 15 tuổi th́ xă hội hoàn toàn lỗ vốn, nếu có công
việc làm ăn đều đặn th́ một người phải sống đến 40 tuổi mới trả xong hết các
khoản nợ đời, phải lao động và sống ngoài 40 tuổi mới làm lăi cho xă hội.
GHOSH CŨNG ĐĂ TÍNH LÀ Ở
Ấn Độ, 22% thu nhập quốc dân đă bị hao phí vào đầu tư không
hiệu quả, nghĩa là để nuôi dưỡng những đứa trẻ chết trước 15 tuổi.
Thiếu ăn, thiếu vệ sinh là cơ sở cho các bệnh phát triển.
Ở CHÂU PHI MỖI NĂM CÓ 1 triệu trẻ em dưới 1 tuổi chết v́
sốt rét. Trực tiếp hay gián tiếp trẻ em DƯỚI 5 TUỔI Ở các nước đang phát triển
bị chết do nguyên nhân thiếu ăn tới 50%. Ziegler nghiên cứu về tai họa của nạn
thiếu ăn, đặc biệt là châu Phi đă đi đến kết luận "Thế giới mà chúng ta đang
sống là một trại tập trung hủy DIỆT LỚN V̀ MỖI NGÀY Ở
ĐÓ CÓ 12 NGH̀N NGƯỜI CHẾT ĐÓI". NGƯỢC LẠI VỚI T̀NH TRẠNG TRÊN Ở các nước công nghiệp phát triển lại đứng bên bờ vực thẳm của sự thừa
ăn, nổi lên sự chênh lệch quá đáng so với các nước đang phát triển.
Ví dụ: Mức tiêu thụ thịt b́nh quân đầu người hàng ngày ở CÁC NƯỚC ĐANG
PHÁT triển là 53 gam th́ ở Mỹ là 248 gam. Mức tiêu thụ sữa ở VIỄN ĐÔNG LÀ 51GAM
SỮA TƯƠI TH̀ Ở CHÂU ÂU LÀ 491 GAM, ÚC LÀ 574 GAM, MỸ LÀ 850 GAM. Ở Viễn Đông tiêu thụ trứng chỉ có 3 gam th́ ở ÚC LÀ 31 GAM, MỸ LÀ 35 GAM, DẦU MỠ Ở VIỄN ĐÔNG LÀ 9 GAM
TH̀ Ở CHÂU Âu là 44 gam, Mỹ 56 gam. Về nhiệt lượng ở Viễn Đông là 2300
KCALO, Ở CHÂU ÂU 3000 KCALO, MỸ 3100 KCALO,
Úc 3200kcalo. Nếu nh́n vào mức tiêu thụ thịt cá th́ sự chênh lệch CÀNG LỚN, 25%
DÂN SỐ THẾ GIỚI Ở
các nước phát triển đă sử dụng 41% tổng protein và 60%
thịt cá của toàn thế giới.
Lấy mức ăn của Pháp làm ví dụ: Mức tiêu thụ thực phẩm năm 1976 tính b́nh quân
đầu người là 84 kg thịt ( năm 1980 là 106 kg ), 250 quả trứng, 42 kg cá, 15 kg
pho mát, 19 kg dầu mỡ, 9 kg bơ, 36 kg đường, 3kg bánh ḿ, 73 kg khoai tây, 101
kg rau, 58 kg quả, 101 lít rượu vang, 71 lít bia. Mức ăn quá thừa nói trên đă
dẫn đến t́nh trạng thừa dinh dưỡng. Theo Bour 20% dân Pháp bị bệnh BÉO PH̀, BÉO
QUÁ MỨC.
Ở những người béo trệ hiện tượng tích lũy mỡ bao bọc ở CÁC CƠ QUAN TĂNG LÊN, thậm chí cả ở tim làm cho khả năng
co bóp của tim yếu đi. Ở NHỮNG NGƯỜI béo thường mắc bệnh vữa xơ động
mạch, khi động mạch vành bị vữa xơ sẽ làm giảm lưu tốc máu, sự nuôi dưỡng tim bị
kém. Hậu quả của thừa ăn ngoài bệnh béo ph́ c̣n dẫn đến các bệnh tăng huyết áp,
bệnh đái đường và các cơ quan bị nhiễm mỡ đặc biệt là bệnh thiểu năng tim, thiểu
năng hô hấp, thiểu năng thận. Cũng theo Bour 15% dân Pháp bị cao huyết áp, 3% bị
đái đường và tỷ lệ tử vong liên quan đến bệnh tim mạch tới 35-40% liên quan CHẶT
CHẼ VỚI NẠN THỪA ĂN. THỰC TẾ Ở
các nước đang phát triển hiện tượng thừa ăn chủ yếu là
thừa năng lượng do protein và nhất là lỉpit, nhưng vẫn thiếu các chất dinh dưỡng
khác đặc biệt là các yếu tố vi chất dinh dưỡng.
Nước ta đang phấn đấu thoát khỏi t́nh trạng nghèo đói và suy dinh dưỡng, công
việc không phải là dễ dàng sau nhiều năm chiến tranh. Song việc GIẢI QUYẾT VẤN
ĐỀ DINH DƯỠNG Ở
nước ta không phải là việc phấn đấu đuổi kịp các nước về
tiêu thụ các thực phẩm từ thịt, bơ sữa, dầu mỡ và chất béo ăn. Một mẫu thực phẩm
tiêu thụ của các nước phát triển với tác động không có lợi đối với sức khỏe dẫn
tới bệnh béo trệ, vữa xơ động mạch, cao huyết áp và đài đường, cũng như các rối
loạn chuyển hóa khác.
Nhiệm vụ của những người làm dinh dưỡng nước ta là xây dựng được bữa ăn cân
đối hợp lư, giải quyết tốt vấn đề an toàn lương thực thực phẩm, sớm thanh toán
bệnh suy dinh dưỡng protein năng lượng và các bệnh có ư nghĩa CỘNG ĐỒNG LIÊN
QUAN ĐẾN THIẾU CÁC YẾU TỐ VI CHẤT.
IV. BỮA ĂN HợP Lư ĐảM BảO NHU CầU DINH DƯỡNG
Các chất dinh dưỡng tham gia cấu tạo nên cơ thể không phải là vật liệu cố
định mà luôn được thay thế và đổi mới. Thành phần cấu tạo của một người nặng
trung b́nh 50 kg bao gồm khoảng:
- 32 kg nước
- 11 kg đạm
- 4 kg chất béo (lipit)
- 2,5 kg chất khoáng
- 0,3-0,5 KG gluxit
Nhờ có chất đồng vị phóng xạ, đến nay người ta đă xác định là một nửa chất
protein của cơ thể được đổi mới trong ṿng 80 ngày. Protein ở GAN, Ỏ MÁU ĐỔI MỚI
C̉N NHANH hơn, một nửa đổi mới trong ṿng 10 ngày.
Trong một đời người, chất protein có thể đổi mới tới 200 lần. Ngoài nhu cầu
ăn để phát triển cơ thể khi c̣n trẻ , để đổi mới cơ thể trong suốt đời người,
người ta c̣n phải ăn để đảm bảo năng lượng cho duy tŕ các hoạt động của cơ quan
và lao động. Năng lượng tiêu hao của cơ thể được cung cấp bởi thức ăn. Thức ăn
ăn vào được chuyển hóa thành dạng hóa năng sau đó được chuyển thành nhiệt năng
để duy tŕ thân nhiệt , thành cơ năng để đảm bảo hoạt động và lao động, thành
điện năng để duy tŕ luồng điện sinh vật. Tất cả các loại năng lượng nay cuối
cùng đều chuyển thành nhiệt năng tỏa ra ngoài cơ thể. Cho nên người ta chỉ cần
đo nhiệt năng (gọi quen là nhiệt lượng) là đă biết được mức tiêu hao năng lượng
của cơ thể. Có thể đánh giá mức ăn có đủ hay không bằng cách theo dơi cân, đatm
bảo cho ḿnh có một cân nặng lư tưởng, người không quá gầy cũng không quá BÉO.
CÓ THỂ DÙNG CÔNG THỨC SAU ĐÂY ĐỂ TÍNH TOÁN CÂN LƯ TƯỞNG:
P = 50 + 0,75 (
T - 150 )
TRONG ĐÓ: P LÀ TRỌNG LƯỢNG LƯ TƯỜNG TÍNH BẰNG
KG
T là chiều cao tính bằng cm.
Ví dụ: Một người cao 160 cm, th́ cân nặng lư tưởng là:
50 + 0,75 ( 160 - 150 ) = 57,5 kg.
Một người cao 170 cm th́ cân nặng lư tưởng là:
50 + 0,75 ( 170 -150 ) = 65 kg.
CÓ THỂ tính nhanh bằng cách lấy chiều cao
trừ đi 105 đối với người trẻ tuổi và 110 đối với người có tuổi.
Nếu sau một thời gian lao động và ăn uống ở một mức nhất định mà cân vẫn
đứng, có nghĩa là mức ăn đă phù hợp với mức lao động.
Bữa ăn hợp lư c̣n phải đáp ứng các nhu cầu dinh dưỡng phức tạp của cơ thể về
các chất dinh dưỡng. Bảng tháp dinh dưỡng cân đối sau đây sẽ giúp chúng ta có
khái niệm cơ bản để giải quyết vấn đề này .
ĐẢM BẢO AN TOÀN THỰC PHẨM Ở
hộ gia đ́nh.
- Về số lượng: B́nh quân 2300 Kcalo/người/ngày, tối thiểu 2100 Kcal.
- Về chất lượng: Cân đối 12% protein, 18% lipit, 70% gluxit.
- Về vệ sinh: An toàn, không gây bệnh, hạn chế muối ăn.
ĐỐI VỚI BÀ MẸ: + CÓ
thai ăn thêm mỗi ngày 300 Kcalo
+ Cho con bú ăn thêm mỗi ngày 500 Kcalo, trung b́nh tương đương Kcalo của
100g gạo/ngày.
- Đối với trẻ em dưới 3 tuổi:
+ Bú mẹ sớm trong 1/2 giờ đầu sau khi sinh
+ Bú hoàn toàn sữa mẹ trong 4 tháng đầu. Từ tháng thứ năm cho ăn sam có
chất lượng, tô màu đĩa bột, nhưng vẫn bú mẹ tối thiểu 12 tháng. Cố GẮNG CHO CON BÚ ĐẾN 18-24 tháng, ăn nhiều bữa 5-6
bữa/ngày, có thêm dầu để tăng năng lượng.
- ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG: Ă n theo lao động, càng lao động càng cần nhiều năng lượng
và số lượng thức ăn cũng tăng theo để đảm bảo đủ nhu cầu năng lượng tăng lên do
lao động.
- DỒI VỚI NGƯƠI NHIỀU TUỔI:
Ăn giảm năng lượng dần theo lứa tuổi do giảm cường độ lao
động trung b́nh giảm 30% năng lượng. Giảm những thức ăn như đường , bánh kẹo,
nước ngọt. Tăng cá và thức ăn nguồn gốc thực vật, tăng rau quả
ở tháp dinh dưỡng cân đối có tính chất
hướng dẫn chứng, chỉ có ư mô tả nhiều ít. Tất cả các nhóm thức ăn mô tả ở trên
đều cần. Muối tuy không phải là thực phẩm, chỉ là một gia vị , nhưng muối có
liên quan tới bệnh cao huyết áp nên cần hạn chế. Sau muối là đường ngọt, bánh
kẹo cũng cần được lưu ư để tránh lạm dụng: Không nên cho trẻ ăn bánh kẹo trước
bữa ăn. Người cao tuổi cũng cần tránh dùng nhiều đường, bánh kẹo và nước ngọt.
BƠ, DẦU, MỠ Ở các nước phát triển ăn quá
nhiều, năng lượng do chất béo trong khẩu PHẦN CỦA HỌ LÊN TỚI TRÊN 30%. Ở
nước ta mới đạt 7-8% cho nên lượng chất béo cần tăng lên,
tuy vậy nước ta là xứ nóng, không quen ăn các món ăn quá béo v́ thế cũng không
nên vượt quá 18% năng lượng bữa ăn.
Trong khẩu phần của nhân dân ta lượng protein c̣n thiếu và chưa cân đối giữa
đạm động vật và thực vật. Để giải quyết vấn đề thiếu protein cần chú ư phất
triển trồng nhiều loại đậu đỗ , nhất là đỗ tương một loại có hàm lượng protein
cao tới 34%. Cần đưa nhiều sản phẩm từ đỗ tương vào bữa ăn, trước hết có sữa đậu
nành cho trẻ em và người cao tuổi. Các món tương, đậu phụ có mặt trong bữa ăn
hàng ngày của các gia đ́nh. Trong bữa ăn cũng cần tăng tỉ lệ thịt trứng v́ đó
không chỉ là nguồn cung cấp protein có giá trị cao mà c̣n là nguồn chất sắt dễ
hấp thu để pḥng chống bệnh thiếu máu. Cá không chỉ là nguồn protein có giá trị
mà lipit của cá có nhiều axit béo chưa no cần thiết có tác dụng đề pḥng
cholesterol cao nên ăn 3 bữa cá trong một tuần.
Rau quả tuy cung cấp ít năng lượng nhưng rất quan trọng v́ là nguồn cung cấp
các vi chất, các vitamin, các chất khoáng rất cần trong các quá tŕnh CHUYỀN HÓA
Ở TRONG cơ thể. Rau quả c̣n chứa nhiều chất
xơ giúp chống táo bón, pḥng cholesterol cao và ung thư đại tràng. Đặc biệt rau
quả rất cần cho những người cao tuổi.
Gạo, ngô, ḿ lương thực nói chung là thức ăn cung cấp năng lượng chính cho
bữa ăn với giá rẻ về mặt giá trị năng lượng so với thịt và rau quả. Bữa ăn của
nhân dân ta c̣n nghèo nên lượng gạo chiếm tới 85% năng lượng khẩu phần, dẫn đến
sự mất cân đối trong bữa ăn. Để cải thiện bữa ăn dần dần giảm năng lượng do gạo
xuống và tăng nhiều thực phẩm khác, làm cho bữa ăn được đa dạng và phong phú
hơn.
Để đảm bảo cho con người sống khỏe mạnh, trong dinh dưỡng không chỉ chú ư đến
mặt đảm bảo nhu cầu mà là một vấn đề rất quan trọng là đảm bảo bữa ăn sạch và an
toàn. Thực phẩm cũng có thể là nguồn truyền nhiễm các mầm bệnh gây nên nhiễm
khuẩn, nhiễm độc thức ăn, cũng như là nguồn truyền các bệnh kí sinh trùng...
Không những thế thực phẩm chúng ta ăn hàng ngày đang bị đe dọa v́ dư lượng hóa
chất trừ sâu, diệt cỏ và kích thích tăng trưởng. Thực phẩm c̣n bị nhiễm các phẩm
màu và chất phụ gia trong quá tŕnh gia công chế biến, bảo quán thực phẩm. Trong
quá tŕnh bảo quản dự trữ hiện tượng nấm mốc sản sinh các độc tố vi nấm rất nguy
hiểm.
Để đảm bao sức khỏe con người cần đảm bảo ăn đủ nhu cầu, cân đối về chất
lượng, an toàn về mặt vệ sinh, cùng với việc đảm bảo nguồn nước sạch, môi trường
thanh khiết, một cuộc sống tính thần lành mạnh sẽ đảm báo cho con người khỏe
mạnh.
Mục lục
|
|
HỆ THỐNG
PHẦN MỀM QUẢN LƯ BỆNH VIỆN

HT MEDSOFT
|
|
|

BS PHAN XUÂN TRUNG
"Lăng tử giữa thương trường"

WHO
definition of HEALTH:
Health is a state of complete physical, mental and social well-being and
not merely the absence of disease or infirmity.

Hệ thống phần mềm quản lư bệnh viện
YKHOA.NET
|
|