|
|
DINH DƯỠNG VÀ AN TOÀN THỰC PHẨM
CHƯƠNG II: CÁC CHẤT DINH DƯỠNG
Đặc điểm của cơ thể sống là trao đổi vật chất
thường xuyên với môi trường bên ngoài. Cơ thể lấy oxy, nước và thức ăn từ môi
trường. Khẩu phần của con người là sự phối hợp các thành phần dinh dưỡng có
trong thực phẩm và nước một cánh cân đối thích hợp với nhu cầu của cơ thể.
Những chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể sống là các chất sinh năng lượng
bao gồm protein, lipit, gluxit và các chất không sinh năng lượng bao gồm các
vitamin, các chất khoáng và nước.
I. PROTEIN
Protein là thành phần dinh dưỡng quan trọng nhất, chúng có mặt trong thành
phần của nhân và chất nguyên sinh cửa các tế bào. Quá tŕnh sống là sự thoái hóa
và tân tạo thường xuyên của protein. V́ vậy, hàng ngày cần ăn vào một lượng đầy
đủ protein.
1. Vai tṛ dinh dưỡng của protein.
CÓ THỂ tóm tắt vài đặc trưng quan trọng
của protein như sau:
- Protein là yếu tố tạo h́nh chính, tham gia vào thành phần các cơ bắp, máu,
bạch huyết, hocmôn, men, kháng thể, các tuyến bài tiết và nội tiết. Cơ THỂ B̀NH
THƯỜNG CHỈ có mật và nước tiểu không chứa protein. Do vai tṛ này, protein có
liên quan đến mọi chức năng sống của cơ thể (tuần hoàn, hô hấp, sinh dục, tiêu
hóa, bài tiết hoạt động thần kinh và tinh thần...).
- Protein cần thiết cho chuyển hóa b́nh thường các chất dinh dưỡng khác, đặc
biệt là các vitamin và chất khoáng. Khi thiếu protein, nhiều vitamin không phát
huy đầy đủ chức năng của chúng mặc dù không thiếu về số lượng.
- Protein c̣n là nguồn năng lượng cho cơ thể, thường cung cấp 10%-15% năng
lượng của khẩu phần, 1g protein đốt cháy trong cơ thể cho 4 Kcal, nhưng về mặt
tạo h́nh không có chất dinh dưỡng nào có thể thay thế protein.
- Protein kích thích sự thèm ăn và v́ thế nó giữ vai tṛ chính tiếp nhận các
chế độ ăn khác nhau. Thiếu protein gây ra các rối loạn quan trọng trong cơ thể
như ngừng lớn hoặc chậm phát triển, mỡ hóa gan, rối loạn hoạt động nhiều tuyến
nội tiết (giáp trạng, sinh dục), thay đổi thành phần protein máu, giảm khả năng
miễn dịch sinh học của cơ thể và tăng tính cảm thụ của cơ thể với các bệnh nhiễm
khuẩn. T́nh trạng suy dinh dưỡng do thiếu protein đă ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỨC KHỎE TRẺ
EM Ở NHIỀU NƠI
trên thế giới.
2. Giá trị dinh dưỡng của protein.
Các protein cấu thành từ các axit amin và cơ thể sử dụng các axit amin ăn vào
để tổng hợp protein của tế bào và tổ chức. Thành phần axit amin của cơ thể người
không thay đổi và cơ thể chỉ tiếp thu một lượng các axit amin hằng định vào mục
đích xây dựng và tái tạo tổ chức. Trong tự nhiên không có loại protein thức ăn
nào có thành phần hoàn toàn giống với thành phần axit amin của cơ thể. Do đó để
đáp ứng nhu cầu cơ thể cần phối hợp các loại protein thức ăn để có thành phần
axit amin cân đối nhất. Có 8 AXIT AMIN CƠ THỂ KHÔNG TỔ HỢP ĐƯỢC HOẶC CHỈ TỔNG HỢP
MỘT LƯỢNG RẤT ÍT. ĐÓ LÀ LIZIN, tryptophan, phenynalaninin, lơ xin, izolơxin, va
lin, treo nin, metionin. Người ta gọi chúng là các axit amin cần thiết.
Giá trị dinh dưỡng một loại protein cao khi thành phần axit amin cần thiết
trong đó cân đối và ngược lại. Các loại protein nguồn gốc động vật (thịt, cá,
trứng, sữa) có giá trị dinh dưỡng cao, c̣n các loại protein thực vật có giá trị
dinh dưỡng thấp hơn. Biết phối hợp các nguồn protein thức ăn hợp lư sẽ tạo nên
giá trị dinh dưỡng cao của khẩu phần. Ví dụ gạo, ngô, ḿ nghèo lizin c̣n đậu
tương, lạc, vừng hàm lượng lyzin cao, khi phối hợp gạo hoặc ḿ hoặc ngô với đậu
tương, vừng , lạc sẽ tạo nên protein khẩu phần có giá trị dinh dưỡng cao hơn các
protein đơn lẻ .
3. Nguồn protein trong thực phẩm.
- Thực phẩm nguồn gốc động vật (thịt, cá, trứng, sữa) là nguồn protein quư,
nhiều về số lượng, và cân đối hơn về thành phần và đậm độ axit amin cần thiết
cao.
- Thực phẩm nguồn gốc thực vật (đậu tương, gạo, ḿ, ngô, các loại đậu
khác...) là nguồn protein quan trọng. Hàm lượng axit amin cần thiết cao trong
đậu tương c̣n các loại khác th́ hàm lượng axit amin cần thiết không cao, tỉ lệ
các axit amin kém cân đối hơn so với nhu cầu cơ thể. Nhưng việc có sẵn trong
thiên nhiên một khối lượng lớn với giá rẻ nên protein thực vật có VAI TR̉ QUAN
TRỌNG ĐỐI VỚI KHẨU PHẦN CỦA CON NGƯỜI.
II. LIPIT
1. Thành phần hóa học của lipit.
Thành phần chính là triglyxerit là những hợp chất hữu cơ phức tạp gồm rượu
bậc 3 glyxerol và các axit béo no, chưa no. Các axit béo là thành phần quyết
định tính chất cửa lipit. Các axit béo no hay gặp là butirie, capric, CAPRILIC,
LORIC, MYRISTIC, PANMITIE, STEARIC. MỠ
động vật thường có nhiều axit béo no, các loại mỡ lỏng và
dầu ăn có nhiều axit béo chưa no. Trạng thái của mỡ nhất là độ tan chảy được
quyết định bởi thành phần axit béo của chúng. Độ TAN CHẢY CAO KHI THÀNH phần axit béo no chiếm ưu thế và
độ tan chảy thấp khi axit béo chưa no chiếm ưu thế. Điều đó có nghĩa là chất béo
lỏng có độ đồng hóa cao hơn chất BÉO ĐẶC Ở ĐIỀU KIỆN NHIỆT ĐỘ B̀NH THƯỜNG. MỠ
B̉, CỪU TAN CHẢY Ở
nhiệt độ 45-50oC được hấp thu 86%-88%. Bơ, mỡ
lợn, dầu thực vật được hấp thu 97%- 88%. Thành phần và nhiệt độ tan chảy của
chất béo súc vật, t́nh trạng sinh lư gia súc, phương thức chăn nuôi gia súc,
điều khiển khí hậu nơi trồng các loại cây có dầu. Mỡ dưới da dễ chảy hơn mỡ
quanh phủ tạng, các loại dầu thực vật nhiệt đới chứa nhiều axit béo phân tứ thấp
dễ tan chảy.
Nhiều tác giả coi các axit béo chưa no linoleic, linolenic và arachidonic
cùng với các sản phẩm đồng phân của chúng là các axit béo chưa no cần thiết v́
chúng không tổng hợp được trong cơ thể. Photphatit và sterol cũng là những thành
phần lipit quan trọng.
2. Vai tṛ dinh dưỡng của lipit.
Trước tiên đó là nguồn năng lượng, 1g chất béo cho 9 Kcal. Thức ăn giàu lipit
là nguồn năng lượng đậm đặc cần thiết cho người lao động nặng, cần thiết cho
thời ḱ phục hồi dinh dưỡng đối với người ốm. Chất béo dự trữ NẰM Ở
DƯỚI da và mô liên kết.
Chất béo dưới da và quanh phủ tạng là tổ chức bảo vệ. Đó LÀ TỔ CHỨC ĐỆM VÀ
bảo vệ cơ thể tránh khỏi các tác động bất lợi của môi trường bên ngoài như nóng,
lạnh. Người gầy, lớp mỡ dưới da mỏng thường kém chịu đựng với sự thay đổi của
thời tiết.
Photphatit là thành phần cấu trúc tế bào thần kinh, năo, tim, gan, tuyến sinh
dục... tham gia vào quá tŕnh dinh dưỡng của tế bào nhất là tính thấm của màng
tế bào. Đối với người trưởng thành photphatit là yếu tố quan trọng điều ḥa
chuyển hóa cholesterol.
Cholesterol cũng là thành phần cấu trúc tế bào và tham gia một số chức năng
chuyển hóa quan trọng như:
-Cholesterol là tiền chất của axit mật tham gia vào quá tŕnh nhũ tương hóa
- Cholesterol tham gia tổng hợp các nội tố vỏ thượng thận (coctizon,
testosterol, andosterol, nội tố sinh dục, vitamin D3).
- Cholesterol có vai tṛ liên kết các độc tố tan máu (saponin) và các độc tố
tan máu của vi khuẩn, kí sinh trùng.
Người ta cũng thấy vai tṛ không thuận lợi của cholesterol trong một số b́nh
như vữa xơ động mạch, một số khối u ác tính. V́ thế cần cân nhắc thận trọng các
trường hợp dùng thức ăn giàu cholesterol (ḷng đỏ trứng) đối với các bệnh nhân
có liên quan tới các bệnh kể trên.
Các axit béo chưa no cần thiết (linoleic, a -
linolenic, arachidonic) có vai tṛ quan trọng trong dinh dưỡng để điều trị các
eczema khó chữa, trong sự phát triển b́nh thường của cơ thể và tăng cường sức đề
kháng. Ngoài ra, chất béo c̣n rất cần thiết cho quá tŕnh chế biến nấu nướng
thức ăn làm cho thức ăn trở nên đa dạng, ngon miệng.
3. Hấp thu và đồng hóa chất béo.
- Các chất béo có nhiệt độ tan chảy thấp hơn 37oc, hệ số hấp thu
khoảng 97-98%.
- Các chất béo có nhiệt độ tan chảy 38 - 39oc , hệ số hấp thu
khoảng 90%.
- Các chất béo có nhiệt độ tan chảy 50-600 c, hệ số HẤP THU KHOẢNG
70-80%.
Như vậy, khẩu phần có chất béo với quá nhiều axit béo no sẽ dẫn đến hạn chế
hấp thu đồng hóa chất béo của cơ thể. Người ta cũng nhận thấy rằng nếu hàm lượng
các axit béo chưa no nhiều nối đôi quá cao (15% tổng số axit béo) chúng sẽ không
được đồng hóa hấp thu. Tỉ lệ thích hợp để hấp thụ khi axít béo chưa no trong
khẩu phần là 4% tổng số axit béo. Độ ĐỒNG HÓA CỦA MỘT SỐ chất béo như sau: bơ
93-98%, mỡ lợn 96-98%, mỡ ḅ 80-86%, dầu vừng 98%, dầu đậu nành 97,5%.
III. GLUXIT
1. Các loại gluxit.
- Mono saccarit: Glucoza, fructoza, galactoza là các phân tử đơn giản nhất
của gluxit, dễ hấp thu đồng hóa nhất. Khác nhau về hàm lượng và chủng loại, các
thực phẩm động vật và thực vật đều có chứa các phân tứ gluxit đơn giản này, tạo
nên vị ngọt của thực phẩm.
- Disaccarit: Saccaroza, lactoza là các phân tử đường kép tiêu biểu. Các
disaccarit khi thủy phân cho 2 phân từ đường đơn. Disaccarit và monosaccarit đều
có vị ngọt. Nếu saccaroza có độ ngọt là 100 th́ fructoza có độ ngọt là
173, lactoza là 16 và galactoza là 32, glucoza là 79.
- Polysaecarit: Tinh bột (amidon, amilopectin), glycogen, xenluloza là các
dạng phân tử gluxít lớn. Hàm lượng và chủng loại của các phân tử gluxit này rất
khác nhau trong các loại thực phẩm. Chúng có ảnh hưởng lớn đến trạng thái và độ
đồng hóa hấp thu của thực phẩm.
2. Vai tṛ dinh dưỡng của gluxit.
Đối với người vài tṛ chính của gluxit là sinh năng lượng. Hơn một nửa năng
lượng của khẩu phần do gluxit cung cấp, 1g gluxit khi đốt cháy trong cơ THỂ CHO
4 KCAL. Ở gan, glucoza được tổng hợp thành glycogen. Gluxit ăn vào trước hết
chuyển thành năng lượng, số dư một phần chuyển thành glycogen và một phần THÀNH
MỠ DỰ TRỮ.
ở mức độ nhất định, gluxit tham gia tạo
h́nh như một thành phần của tế bào và mô. Trong cơ thể luôn luôn xẩy ra quá
tŕnh phân giải gluxit để tạo năng lượng nhưng hàm lượng gluxit máu LUÔN LUÔN Ở
MỨC 80-120 MG%.
ă n uống đầy đủ gluxit sẽ làm giảm phân hủy
protein đến mức tối thiểu. Ngược lại khi lao động nặng nếu cung cấp GLUXIT KHÔNG
ĐẦY ĐỦ SẼ LÀM TĂNG PHÂN HỦY PROTEIN.
ăn uống quá nhiều, gluxit thừa sẽ
chuyển thành lipit và đến mức độ nhất định sẽ gây ra hiện tượng béo phệ.
3. Gluxit tinh chế và gluxit bảo vệ.
Dưới danh từ gluxit tinh chế, người ta ám chỉ những thực phẩm giàu gluxit đă
thông qua nhiều mức chế biến làm sạch, đă mất tối đa các chất kèm theo gluxit
trong thực phẩm. Mức tinh chế càng cao, lượng mất các thành phần cấu tạo càng
lớn, chất xơ bị loại trừ càng nhiều, hàm lượng gluxit càng tăng và thực phẩm trở
nên dễ tiêu hơn. Gluxít tinh chế chính trong vấn đề gây béo
ph́, rối loạn chuyển hóa mỡ VÀ CHOLESTEROL Ở NGƯỜI
NHIỀU TUỔI, NGƯỜI GIÀ ÍT LAO động chân tay.
Thuộc loại gluxít tinh chế cao có:
- Các loại đồ ngọt, trong đó lượng đường quá 70% năng lượng hoặc tuy có hàm
lượng đường thấp (40- 50%) nhưng mỡ cao (30% và hơn).
- Bột ngũ cốc tỉ lệ xay xát cao, hàm lượng xeluloza ở MỨC 0,3% HOẶC THẤP HƠN cung thuộc loại gluxit tinh chế v́
chúng dễ tạo mỡ để tích chứa trong cơ thể.
Người nhiều tuổi, người già, người ít vận động thể lực nên hạn chế lượng
gluxít tỉnh chế dưới 1/3 tống số gluxit khấu phần.
IV. VITAMIN
Nhiều vitamin là cấu tử của các men cần thiết cho quá tŕnh chuyển hóa vật
chất trong cơ thể. Phần lớn các vitamin phái đưa từ thức ăn vào cơ thể, chúng
thuộc nhóm chất cần thiết cho cơ thể tương tự như axit min cần thiết. Người ta
chia các vitamin thành 2 nhóm:
- Nhóm vitamin tan trong chất béo: Là vitamin A,D,E,K thường đi kèm với chất
béo của thức ăn. Một khẩu phần có hàm lượng lipit thấp thường ít các vitamin này
hoặc cơ thể kém sử dụng các vitamin này.
- Nhóm vitamin tan trong nước: Bao gồm vitamin nhóm B, vitamin C, vitamin P,
VITAMIN U. CƠ THỂ dễ dàng được thỏa măn nhu
cầu các vitamin này khi dùng thức ăn tươi.
Dưới đây giới thiệu một số vitamin quan trọng nhất trong dinh dưỡng học.
1. Vitamin A.
DẠNG RETINOL CHỈ CÓ Ở
thực phẩm động vật dưới dạng este của các axit béo bậc CAO
TRONG GAN, PHẬN, PHỔI VÀ MỠ DỰ TRỪ.
Ở THỰC PHẨM THỰC VẬT, VITAMIN A
tồn tại dưới dạng provitamin A. Trong đó
b -caroten có hoạt tính vitamin
A CAO NHẤT NHƯNG CŨNG chỉ 1/6 lượng caroten trong thực
phẩm xuất hiện trong cơ thể như là vitamin A DẠNG RETINOL.
TRONG CƠ THỂ, VITAMIN A duy tri t́nh trạng b́nh thường của biểu mô. Khi thiếu
vitamin A, da và niêm mạc khô, sừng hóa, vi khuẩn dễ xâm nhập gây viêm nhiễm. ĐÓ
LÀ CÁC biểu hiện khô mắt, khô giác mạc.
Vitamin A có vai tṛ quan trọng đối với chức phận thị giác. Sắc tố nhạy cảm
với ánh sáng nằm ở vơng mạc là rodopxin gồm protein và dẫn xuất của vitamin A.
Khi tiếp xúc với ánh sáng, rodopxin phân giải thành opxin (protein) và retinen
(Andehyt của vitamin A). Khi mắt nghỉ, vitamin A dần dần được phục hồi từ
retinen nhưng không hoàn toàn. Do việc bổ sung vitamin A thường xuyên từ thức ăn
là cần thiết. Dưới đây là chu tŕnh chuyển hoá vitamin A trong cơ thể
2. Vitamin D.
ĐÓ LÀ MỘT NHÓM CHẤT trong đó về phương diện dinh
dưỡng có 2 chất quan trọng là ecgocanxiferon (vitamin D2) và colecanxiferon
(vitamin D3). Trong thực vật eo ecgosterol, dưới tác dụng của ánh nắng sẽ cho
ecgocanxiferon. Trong động vật và người có 7-dehydro-cholesterol, dưới tác' dụng
cửa ánh nắng sẽ cho coleeanxiferon.
VAI TR̉ CHÍNH CUA VITAMIN D LÀ TĂNG HẤP THU CANXI VÀ PHOTPHO Ở RUỘT NON. NÓ
CŨNG có tác dụng trực tiếp tới quá tŕnh cốt hóa. Như vậy, vitamin D LÀ YẾU TỐ
CHỐNG C̉I XƯƠNG VÀ KÍCH thích sự tăng trưởng của cơ thể.
3. Vitamin B1 ( tiamin ).
Tia min dưới dạng tiamin pirophotphat là coenzim của men carboxylaza, men này
cần cho phản ứng khử carboxyn của axit xetonic (axit pyruvic, axit -
xetoglutaric ):
Khi thiếu vitamin B1 axit pyruvic sẽ tích lũy trong cơ thể gây độc cho hệ
thống thần kinh. V́ thế nhu cầu via min B1 đối với cơ thể tỉ lệ thuận với nhu
cầu năng lượng.
Vitamin B1 tham gia điều ḥa quá tŕnh dẫn truyền các xung tác thần kinh do
nó ức chế khử axetyl-cholin. Do đó khi thiếu vitamin Bi gây ra hàng loạt các rối
loạn có liên quan tới các rối loạn dẫn truyền thần kinh như tê b́, táo BÓN, HỒI
HỘP, KHÔNG NGON MIỆNG. ĐÓ
là các dấu hiệu của bệnh Beriberi.
Vitamin B có trong các hạt ngũ cốc, rau, đậu, thịt nạc, ḷng đỏ trứng, gan,
thận.
4. Vitamin B2 (Riboflavin).
Riboflavin là thành phần của nhiều hệ thống men tham gia chuyển hóa trung
GIAN. VÍ DỤ FMN (FLAVIN-MONO-NUCLEOTIT), FAD
(Flavin-adenin-dinucleotit) là các enzim quan trọng trong
sự hô hấp của tế bào và mô như chất vận chuyển hydrogen.
Vitamin B2 cần cho chuyển hóa protein, khi thiếu một phần các axit min của
thức ăn không được sứ dụng và ra theo nước tiểu. Ngược lại khi thiếu protein,
quá tŕnh tạo men flavoprotein bị rối loạn. V́ vậy khi thiếu proteinthường xuất
hiện triệu chứng thiếu vitamin B2.
Ngoài ra vitamin B2 có ảnh hưởng tới khả năng cảm thụ ánh sáng của mắt nhất
là đối với sự nh́n màu. Khi thiếu vitamin B2 sẽ có tổn thương ở GIÁC MẠC VÀ NHÂN MẮT. Riboflavin có nhiều trong các lá
xanh, đậu đỗ, phủ tạng của động vật
5. VITAMIN PP ( Nia xin, axit nieotinic).
Tất cả các tế bào sống đều cần ma xin và dẫn xuất của nó. Chúng là thành phần
cốt yếu của 2 coenzim quan trọng chuyển hóa gluxit và hô hấp tế bào là
Nicotinamit Adenin Dinucleotit (Nad-coenzim I) và Nicotinamit Adenin Dinucleotit
PHOTPHAT (NADP-COENZIMII). VAI TR̉ CHÍNH CỦA NAD VÀ NADP
là chuyển H+ từ một cơ chất tới một coenzim hay một cơ
chất khác. Như vậy có sự tham gia phối hợp của riboflavin và nia xin trong các
phản ứng hô hấp tế bào.
Trong cơ thể, tryptophan có thể chuyển thành axit nicotinic. Quá tŕnh này
XÂY RA Ở RUỘT và gan và bị cản trở khi thiếu
piridoxin. Cứ 60mg tryptophan cho 1 mg axit nicotinic.
Thiếu nia xin và tryptophan là nguyên nhân của bệnh Pellagra. Các biểu hiện
chính của bệnh là viêm da nhất là vùng da tiếp xúc ánh nắng mặt trời, viêm niêm
mạc, ỉa chảy, có các rối loạn về tinh thần.
Thịt gia cầm, ḅ, lợn nhất là phủ tạng chứa nhiều vitamin PP. Lớp ngoài của
các hạt gạo, ngô, ḿ, đậu lạc vừng rất giàu vitamin PP.
6. VITAMIN
C ( AXIT ASCORBIE) .
VITAMIN C THAM GIA NHIỀU QUÁ tŕnh chuyển hóa quan trọng. Trong quá tŕnh oxy
hóa khử, vitamin C CÓ VAI TR̉ NHƯ MỘT CHẤT VẬN CHUYỂN H+.
VITAMIN C C̉N KÍCH THÍCH tạo colagen của mô kiên kết, sụn, xương, răng, mạch
máu. V́ thế khi thiếu VITAMIN C, CÁC TRIỆU CHỨNG THƯỜNG BIỂU HIỆN Ở các tổ chức liên kết và xương (xuất huyết dưới da, chảy máu chân
răng, đau mỏi xương khớp).
VITAMIN C KÍCH THÍCH HOẠT động của các tuyến thượng
thận, tuyến yên, hoàng thể, cơ quan tạo máu và DO ĐÓ VAI TR̉ CỦA VITAMIN C LIÊN
quan tới chức phận của các cơ quan này như kích thích sự phát triển ở TRẺ EM,
PHỤC HỒI SỨC KHỎE, VẾT THƯƠNG mau lành, tăng sức bền mao mạch, tăng khả năng lao
động, sự dẻo dai và tăng sức kháng nhiễm.
TRONG TỰ NHIÊN, VITAMIN C CÓ nhiều trong rau quả nhưng hàm lượng của chúng
giảm thường xuyên do các yếu tố nội tại của thực phẩm và các yếu tố vật lư khác
như ánh sáng, nhiệt độ cao, các men oxy hóa và các ion kim loại ( Fe, Cu).
Trong tối, nhiệt độ thấp các món ăn hỗn hợp nhất là món ăn chua, vitamin được
duy tŕ lâu hơn.
VITAMIN C RẤT DỄ TAN TRONG nước, do đó trong quá tŕnh chế biến cần lưu ư để
tránh sự hao hụt không CẦN THIẾT VÀ TẬN DỤNG CÁC PHẦN NƯỚC CỦA THỨC ĂN.
V. CáC CHấT KHOáNG
Khoáng là một nhóm các chất cần thiết không sinh năng lượng nhưng giữ vai tṛ
trong nhiều chức phận quan trọng đối với cơ thể. Cơ thể người ta có gần 60
nguyên tố hóa học. Một số chất có hàm lượng lớn trong cơ thể được xếp vào nhóm
các yếu tố đa lượng (macroelements), số khác có hàm lượng nhỏ được xếp vào nhóm
các vi yếu tố (microelements). Các yếu tố đa lượng là Ca (1,5%),
P (L%), MG (0,05%), K (0,35%), NA (0,15%) ;
Các yếu tố vi lượng là I, F, Cu, Co, Mn, Zn... c̣n
gọi là yếu tố vết. Lượng tro của một người trưởng thành khoảng 2 kg tương đương
4% trọng lượng cơ thể. Khoảng một nửa đường chất khoáng đó là yếu tố tạo h́nh
của các tổ chức xương và tổ chức mềm, phần c̣n lại nằm trong các dịch thể.
Hàm lượng các chất khoáng trong các mô không giống nhau. Xương chứa nhiều
chất khoáng nhất c̣n da và mô mỡ chỉ chiếm dưới 0,7%. Một số chất khoáng nằm
trong các liên kết hữu cơ như iot trong tyroxin, sắt trong hemoglobin, c̣n PHẦN
LỚN CÁC KHOÁNG CHẤT ĐỀU Ở
dạng muối. Nhiều loại muối này ḥa tan trong nước như
natri clond, canxi clond, nhiều loại khác rất ít tan. Quan trọng nhất là các
canxi photphat, ma giê photphat của xương .
1. Vai tṛ dinh dưỡng của các chất khoáng.
Vai tṛ dinh dưỡng của các chất khoáng trong cơ thể rất đa dạng và phong phú:
Các muối photphat và cacbonat của canxi, ma giê là thành phần câu tàu XƯƠNG,
RĂNG, ĐẶC BIỆT CẤN THIẾT Ở
trẻ em, phụ nữ nuôi con bằng sửa. Khi thiếu canxi, xương
trở nên xốp, mô liên kết biến đổi. Quá tŕnh này xẩy ra ở TRẺ EM LÀM XƯƠNG BỊ mềm, biến dạng (c̣i xương). Những
thay đổi này trở nên nghiêm trọng khi kèm theo thiếu vitamin D. Ngoài ra, canxi
c̣n tham gia điều ḥa quá tŕnh đông máu và giảm tính kích thích thần kinh cơ.
Chuyển hóa canxi liên quan chặt chê với chuyển hóa photpho, ngoài việc tạo
xương, photpho c̣n tham gia tạo các tổ chức mềm (năo, cơ ).
Photpho là thành phần của một số men quan trọng tham gia chuyển hóa protein,
lipit, gluxit, hô hấp tế bào và mô, các chức phận của cơ và thần kinh. Để đốt
cháy các chất hữu cơ trong cơ thể mọt phân tử hữu cơ đều phải qua giai đoạn liên
kết với photpho (ATP).
Để duy tŕ độ ph tương đối hằng định của nội môi, cần có sự tham gia của chất
khoáng đặc biệt là các muối photphat, ka li, natri. Để duy tŕ cân bằng áp lực
thẩm thấu giữa khu vực trong và ngoài tế bào, cần có sự tham gia của chất
khoáng, quan trọng nhất là Nacl và KCL. Na tri c̣n tham gia vào điều ḥa chuyển
hóa nước, có ảnh hưởng tới khả năng giữ nước của các protein-keo. Đậm độ Na+
thay đổi dẫn đến cơ thể mất nước hay giữ nước.
Một số chất khoáng tham gia thành phần một số hợp chất hữu cơ có vai tṛ đặc
biệt. Sắt với hemoglobin và nhiều men oxy hóa trong hô hấp tế bào, thiếu sắt gáy
thiếu máu. Iot với tiroxin là hormon của tuyến giáp trạng, thiếu Iot là nguyên
nhân bệnh bướu cổ địa phương. Cu, Co là các chất tham gia vào quá tŕnh tạo máu.
Hiện nay vai tṛ của chất khoáng nhất là các vi yếu tố c̣n chưa được biết đầy
đủ
2. Nguồn chất khoáng trong thực phẩm.
Các chất khoáng phân phối không đều trong thức ăn. Các thực phẩm trong đó
tổng lượng các ion K+, Na+, Ca++ Mg++ chiếm ưu thế được coi là nguồn các yếu tố
kiềm. Thuộc loại này gồm có phần lớn rau lá, rau củ, quả tươi sữa và chế phẩm
của các thực phẩm này.
CÁC THỰC PHẨM CÓ TỔNG LƯỢNG CÁC ION ÂM ( S, P
) chiếm ưu thế dẫn đến t́nh trạng toan của cơ thể
sau quá tŕnh chuyển hóa được gọi là thức ăn nguồn các yếu tố toan. Thức ăn
thuộc loại này gồm có thịt, cá trứng, đậu, ngũ cốc.
VI. NƯớ C
Nước là thành phần cơ bản của tất cả các tổ chức và dịch thể. Mọi quá tŕnh
chuyển hóa trong tế bào và mô chỉ xây ra b́nh thường khi đủ nước. Người ta có
thể nhịn ăn để sống 3-4 tuần nếu mỗi ngày tiêu thụ 300-400 ml nước nhưng sẽ chết
trong ṿng 4-5 ngày nếu không được uống nước.
Nguồn nước cho cơ thể là ăn, uống và sản phẩm của quá tŕnh chuyển hóa
protein, lipit, gluxit trong cơ thể.
CƠ THỂ mất nước qua da một ngày trung b́nh
0,5-0,8 lít nước, khi trời nóng có thể tới 10 lít, qua phổi 0,5 lít, qua thận
1,2-1,5 lít và qua ống tiêu hóa 0,15 lít, khi ỉa chảy có thể tới mấy lít.
CÂN BẰNG NƯỚC Ở
người trưởng thành
Nguồn nước vào |
Số lượng |
Nguồn nước ra |
Số lượng |
Ăn |
1000 |
Phổi |
550 |
Uống |
1500 |
Da |
600 |
Chuyển hoá |
300 |
Nước tiểu |
1500 |
| |
|
Phân |
150 |
Tổng cộng |
2800 |
|
2800 |
RỐI LOẠN CHUYỂN HÓA NƯỚC THƯỜNG XẨY RA Ở
một số bệnh như sốt cao, ỉa chảy, nôn nhiều,
mất máu ... hoặc lao động trong điều kiện quá nóng ra mồ hôi nhiều. Trong
các trường hợp đó, việc bù nước và điện giải để duy tŕ thường xuyên, cân bằng
nước và điện giải là rất cần thiết để bảo vệ sức khỏe.
Mục lục
|
|
HỆ THỐNG
PHẦN MỀM QUẢN LƯ BỆNH VIỆN

HT MEDSOFT
|
|
|

BS PHAN XUÂN TRUNG
"Lăng tử giữa thương trường"

WHO
definition of HEALTH:
Health is a state of complete physical, mental and social well-being and
not merely the absence of disease or infirmity.

Hệ thống phần mềm quản lư bệnh viện
YKHOA.NET
|
|