|
|
DINH DƯỠNG VÀ AN TOÀN THỰC PHẨM
CHƯƠNG III: NHU CẦU DINH DƯỠNG
Thức ăn cung cấp năng lượng cho cơ thể dưới dạng
gluxit, lipit, protein và cho một số người c̣n có năng lượng từ rượu và dạng đồ
uống có rượu. Thức ăn c̣n cung cấp các axit min, axit béo, vitamin và các chất
cần thiết cho cơ thể phát triển và duy tŕ: các hoạt động của tế bào và tổ chức.
Người ta thấy rằng sự thiếu hoặc thừa các chất dinh dưỡng trên so với nhu cầu
đều dẫn đến ảnh hưởng bất lợi tới sức khỏe và có thể dẫn đến bệnh tật. Chúng ta
c̣n biết rằng trong thức ăn không chỉ có các chất dinh dưỡng mà c̣n có các chất
tạo màu sắc, hương vị cũng như có thể có các chất độc hại đối với cơ thể. Do đó
để có bữa ăn hợp lư, an toàn và ngon cần có kiến thức về dinh dưỡng và an toàn
thực phẩm, kỹ thuật chế biến, nấu nướng. Trong nội dung này chỉ đề cập tới nhu
cầu các chất dinh dưỡng.
I. NĂNG LƯỢNG
1. Tiêu hao năng lượng.
Trong quá tŕnh sống của ḿnh, cơ thể con người luôn phải thay cũ đổi mới và
thực hiện các phản ứng sinh hóa, tổng hợp xây dựng các tế bào, tổ chức mới đ̣i
hỏi cung cấp năng lượng. Nguồn năng lượng đó là từ thức ăn dưới dạng protein,
lipit, gluxit.
Các nhà khoa học đă xác định và thể hiện đơn vị năng lượng bằng đơn VỊ
KILOCALO ( VIẾT TẮT LÀ KCAL ). ĐÓ
là nhiệt lượng cần thiết để đưa 1 lít nước từ 150C.
Ngày nay c̣n một đơn vị năng lượng được dùng là Jun, đơn vị này dựa và cách tính
cơ năng, 1 Jun được tính là lực 1(N) chuyển một vật có trọng lượng 1 kg dời một
khoảng cách 1m.
1 Kcal = 4,184 Kilojun.
Để xác định năng lượng cung cấp từ thức ăn người ta sử dụng Bom calori (H́nh
1).
Quá tŕnh phản ứng sinh nhiệt từ thức ăn trong Bom calori được biểu diễn dưới
cơ chế phản ứng sau:
Gluxit, protein, lipit + O2 đ Nhiệt năng
+ H2O
+ CO2
Quá tŕnh này cũng tương tự trong cơ thể người, quá tŕnh đó khá giống ở cơ
và gan. Trong cơ thể người năng lượng tạo ra từ cùng một lượng thức ĂN SO VỚI Ở
BOM CALORI TH̀ thấp hơn. Do trong cơ thể một lượng thức ăn không được tiêu hóa
hấp thu hết thải ra theo phân, lư do thứ hai là trong cơ thể một số chất không
được đốt cháy hoàn toàn và thải ra theo nước tiểu như protein, urê, axit uric...
Giá trị sinh nhiệt của các chất
Chất (g) |
Năng lượng sinh ra |
Ở Bom calori |
Ở CƠ THỂ
|
Protein |
Kcalo |
Kcalo |
KJ |
5.65 |
4 |
17 |
Carbohydrate |
4.1 |
4 |
17 |
Lipit |
9.45 |
9 |
38 |
Rượu |
7.1 |
7 |
29 |
Xác định năng lượng tiêu hao của cơ thể có hai phương pháp trực tiếp và gián
tiếp:
- Phương pháp trực tiếp tương tự cách xác định năng lượng của thực PHẨM Ở
BOM CALORI. Ở phương pháp này năng lượng tiêu hao tương đương với năng lượng làm
nhiệt độ nước tăng lên, thường nhiệt lượng đo được ở CÁCH HỢP VỚI VIỆC ĐO lượng
O2 sứ dụng và CO2 sinh ra trong quá tŕnh hoạt động của cơ thể ở NHÀ ĐO NHIỆT VÀ
DỰA vào thương số hô hấp phụ thuộc vào chất được đốt cháy (H́nh 2):
NẾU GLUXIT ĐƯỢC ĐỐT CHÁY
RQ = 1,0 , LIPIT RQ
- 0,71, protein được đốt cháy th́
RQ = 0,81.(RESPIRATORY quotient - RQ)
Thường chế độ ăn nói chung là hỗn hợp của cả 3 chất do đố thương số hô hấp
thường tính trung b́nh: 0,8-0,85.
- Phương pháp gián tiếp xác định tiêu hao năng lượng qua lượng oxy cơ thể sử
dụng. Từ đó tính năng lượng được sinh ra liên quan với 1 lít oxy sử dụng là 4,82
Kcal.
2. Chuyển hóa cơ sở.
Chuyển hóa cơ sở là năng lượng cơ thể tiêu hao trong điều kiện nghỉ NỘI, NHỊN
ĐÓI VÀ Ở NHIỆT ĐỘ MÔI TRƯỜNG THÍCH HỢP. ĐÓ
là năng lượng cần thiết để duy tŕ các chức phận
sống của cơ thể như tuần hoàn, hô hấp, bài tiết, tiêu hóa, duy tŕ tính ổn định
các thành phần của dịch thể bên trong và bên ngoài tế bào.
Người ta biết rằng hoạt động của gan cần đến 27% năng lượng của chuyển hoá cơ
sở, năo 19%, tim%, thận 10%, cơ 18%, và các bộ phận c̣n lại chỉ 18%. Nhiều yếu
tố ảnh hưởng đến chuyển hóa cơ sở: T́nh trạng hệ thống thần kinh trung ương,
cường độ hoạt động các hệ thống nội tiết và men. Chức phận một số hệ thống nội
tiết làm chuyển hóa cơ sở tăng (ví dụ giáp trạng) trong khi đó hoạt động một số
tuyến nốt tiết khác làm giảm chuyển hóa cơ sở (ví dụ tuyến yên). Chuyển hóa cơ
sở của trẻ em cao hơn ở NGƯỜI LỚN TUỔI, TUỔI CÀNG NHỎ CHUYỂN HOÁ CƠ SỞ CÀNG CAO.
Ở
người đứng tuổi và người già chuyển hoá cơ sở thấp DẦN
SONG SONG VỚI SỰ GIẢM KHỐI NẠC VÀ TĂNG KHỐI MỠ.
ở người trưởng thành, năng lượng cho
chuyển hóa cơ sở vào khoảng 1kcal/kg cân nặng/1 giờ.
ở người phụ nữ có thai chuyển hóa
tăng trong thời ḱ mang thai, và cao nhất ở những tháng cuối, trung b́nh ở PHỤ NỮ MANG THAI CHUYỂN hóa cơ sở tăng 20%. Khi một người
bị thiếu dinh dưỡng hay bị đói, chuyển hóa cơ sở cũng giảm, hiện tượng đó sẽ mất
đi khi nào cơ thề được đáp ứng đủ nhu cầu năng lượng. Cấu trúc cơ thể của một
người có ảnh hưởng đến chuyển hóa cơ sở, so sánh người có cùng trọng lượng,
người có khối mỡ nhiều chuyển hóa cơ sở thấp hơn so với người có khối nạc nhiều.
Nhiệt độ cơ thể liên quan với chuyển hóa cơ sở, khi cơ thể bị sốt tăng lên 10C
th́ chuyển hóa cơ sở tăng 7%. .Nhiệt độ môi trường cũng có ảnh hưởng tới chuyển
hóa cơ sở song không lớn lắm, thường khi nhiệt độ môi trường tăng th́ chuyển hóa
cơ sở cũng tăng lên và ngược lại nhiệt độ môi trường giam chuyển hóa cơ sở cũng
giảm.
Sau một bữa ăn chuyển hóa cơ sở tăng lên từ 5% đến 30% , người ta gọi đó là
tác dụng động lực đặc hiệu , trong đó đạm tăng tới 40%, chất béo 14%, gluxit 6%.
CÓ THỂ tính chuyển hóa cơ sở theo bảng
sau:
Bảng 1: Công thức tính chuyển hóa cơ sở theo
cân nặng ( w ).
Nhóm tuổi |
Chuyển hoá cở sở (Kcalo/ ngày) |
(Năm) |
Nam |
Nữ |
0-3 |
60,9w-54 |
61,0w-51 |
3-10 |
22,7w-494 |
22,5w+499 |
10-18 |
17,5w+651 |
12,2w+746 |
18-30 |
15,3w+679 |
14,7w+946 |
30-60 |
11,6w+879 |
8,7w+892 |
Trên 60 |
13,5w+547 |
10,5w+596 |
3. Lao động thể lực.
Ngoài phần năng lượng tiêu hao để duy tŕ các hoạt động của cơ thể, lao động
thể lực càng nặng th́ tiêu hao càng nhiều năng lượng. Năng lượng thêm vào ngoài
chuyển hóa cơ bản tùy theo cường độ lao động, thời gian lao động. Từ lâu người
ta cũng biết những khác nhau về năng lượng tiêu hao có thể khác nhau khá lớn
ngay cả khi có cùng điều kiện sống và công việc đó ỉa những yếu tố thể trọng,
tuổi, môi trường và đặc biệt sự khéo léo và thành thục công việc.
Nếu ăn uống không đảm bảo mức tiêu hao năng lượng người ta sẽ kéo dài thời
gian nghỉ, hoặc giảm cường độ lao động dẫn tới năng suất lao động giảm.
Dựa vào tính chất, cường độ lao động thể lực người ta xếp các loại nghề
nghiệp thành nhóm như:
- Lao động nhẹ: Nhân viên hành chính, các nghề lao động trí óc, nghề
tự do, nội trợ, giáo viên.
- Lao động trung b́nh: Công nhân xây dựng , nông dân, nghề cá, quân nhân,
sinh viên.
- Lao động nặng. Một số nghề nông nghiệp, công nhân công nghiệp nặng,
nghề mỏ, vận động viên thể thao, quân nhân thời kỳ luyện tập.
- Lao động đặc biệt: Nghề rừng, nghề rèn.
Cách phân loại này chỉ có tính cách hướng dẫn , trong cùng một loại nghề
nghiệp, tiêu hao năng lượng thay đổi nhiều tùy theo tính chất công việc.
4. Tính nhu cầu năng lượng cả ngày.
Để xác định nhu cầu năng lượng cả ngày, người ta cần biết nhu cầu cho chuyển
hóa cơ sở và thời gian, tính chất các hoạt động thể lực trong ngày. THEO TỔ CHỨC
Y tế thế giới (1985) có thề tính năng II rừng cả ngày từ nhu cầu cho chuyển hóa
cơ sở theo các hệ số sau:
Bảng 2:
Hệ số tính nhu cầu năng lượng cả ngày của người trưởng thành theo
chuyển hóa cơ sở.
Lao động nhẹ |
Nam |
Nữ |
Lao động nhẹ |
1,55 |
1,56 |
Lao động vừa |
1,78 |
1,61 |
Lao động nặng |
2,10 |
1,82 |
Ví dụ: nhu cầu năng lượng của nhóm lao động nam lứa tuổi 18-30, cân nặng
trung b́nh 50 kg , loại lao động vừa như sau:
- Tra bảng 1 ta tính được nhu cầu cho chuyển hóa cơ sở là:
( 15,3 x 50 ) + 679 = 1444 Calo.
Tra bảng 2 ta t́m được hệ số tương ứng cho lao động vừa ở NAM LÀ 1,78 VÀ TÍNH được nhu cầu cả ngày như sau:
1444 Calo x 1,78 - 2570 Calo.
5. DUY TR̀ CÂN NẶNG NÊN CÓ:
ở trẻ em, tăng cân là một biểu hiện của
PHÁT TRIỂN B̀NH THƯỜNG VÀ DINH DƯỠNG HỢP LƯ.
ở người trưởng thành quá 25
TUỔI CÂN NẶNG THƯỜNG DUY TR̀ Ở
mức ổn định quá béo hay quá gầy đều không có lợi đối với
sức khỏe. Người ta thấy rằng tuổi thọ trung b́nh của người béo thấp hơn và tỷ lệ
mắc các bệnh tim mạch cao hơn người b́nh thường. Có NHIỀU CÔNG THỨC ĐỂ tính cân nặng "nên có" hoặc các chỉ số
tương. ứng. Một chỉ số ĐƯỢC SỬ DỤNG NHIỀU VÀ ĐƯỢC TỔ CHỨC Y
tế thế giới (1985) khuyến nghị là chỉ số khối cơ thể (BODY
MASS INDEX, BMI ), TRƯỚC ĐÂY C̉N GỌI LÀ CHỈ
SỐ QUETELET:
TRONG ĐÓ : W: Cân nặng tính theo Kg
H: Chiều cao tính theo in
THEO TỔ CHỨC Y TẾ THẾ GIỚI, CHỈ SỐ BMI Ở
người b́nh thường nên năm trong khoảng 18,5-25 ở CẢ NAM VÀ NỮ. THEO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA VIỆN DINH
DƯỠNG, CHỈ SỐ BMI Ở
người Việt nam 26-40 tuổi nam là 19,72 + 2,81, nữ
19,75 + 3,41
II NHU CầU CáC CHấT DINH DƯỡNG
A . NH U Cầ U Cá C CHấT SINH NĂ NG L ượNG
1. Nhu cầu Protein.
Trong quá tŕnh sống, thường xuyên diễn ra quá tŕnh phân hủy và sinh tổng
hợp các chất, quá tŕnh thay cũ đổi mới về thành phần tế bào. Để đảm bảo quá
tŕnh phân hủy và đổi mới hàng ngày cần bổ xung chất protein vào MÁU. CHẤT
PROTEIN Ở cơ thể người ta chỉ có thể tạo
thành từ protein của thực phẩm, chất protein không thể tạo thành từ chất lipit
và gluxit.
Nhu cầu protein hàng ngày của cơ thể là bao nhiêu ? Câu hỏi đó vẫn đang là đề
tài cho các tranh luận và nghiên cứu sôi nổi. Giữa thế kỷ 19 Voi, Rubner và
Atwater qua nhiều nghiên cứu phân tích thống kê t́nh h́nh ăn uống của nhiều nước
đi đến kết luận là trung b́nh mỗi người mỗi ngày cần 118g protein.
Chittenden trên cơ sở nghiên cứu cân bằng ni tơ đi đến kết luận là hàng ngày
mỗi người chỉ cần 55-60g Protein nghĩa là chỉ cần một nửa nhu cầu do Voi đề
xuất.
Bản chất của nhu cầu protein: Nhu cầu protein cho d(ly tŕ quá tŕnh thay cũ
đổi mới, bù đắp lượng ni tơ mất theo da, phân, và trong chu ḱ kinh nguyệt. Nhu
cầu protein để phát triển cơ thể đang lớn, phụ nữ có thai cần protein để xây
dựng tổ chức mới, người mẹ cho con bú mỗi ngày tiết 500ml sữa có khoảng 10,5g
protein. Nhu cầu protein cho quá tŕnh hồi phục sau một chấn thương (mổ, bỏng)
hay sau khi ốm khỏi, cơ thể cần protein dể hồi phục.
CÓ nhiều phương pháp xác định nhu cầu protein tuy nhiên chưa
có phương pháp nào thật chính xác. Người ta thường sử dụng hai phương pháp:
Bilăng ni tơ xác định lượng ni tơ ăn vào và ni tơ thải ra theo phân, nước tiểu,
người ta t́m được nhu cấu protein bằng cách điều chỉnh lượng ăn vào cho đến khi
Bilăng ni tơ cân bằng. Phương pháp thứ hai là phương pháp tính từng phần nhu cầu
cho lượng nitơ mất đi không tránh khỏi để duy tŕ nhu cầu cho phát triển, để
chống đỡ các kích thích.
Người ta đă xác định được những yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu protein như: Các
yếu tố công kích, thường phải mất cho các yếu tố này tới 10% nhu cầu đó là các
tác động của các stress, phiền muộn, mất ngủ, nhiễm khuẩn nhẹ...Nhiệt độ môi
trường cũng có ảnh hưởng tới nhu cầu protein, khi ở MÔI TRƯỜNG NÓNG LƯỢNG ni tơ mất theo mồ hôi tăng lên. Khi
bị nhiễm khuẩn cơ thể tăng quá tŕnh giáng hóa protein, tổn thương ở các mô bị
nhiễm khuẩn, sốt đều dẫn tới nhu CẦU PROTEIN TĂNG LÊN. Ở
người lao động nhu cầu protein tăng lên không chỉ do nhu
cầu năng lượng tăng mà protein c̣n cần thiết cho việc tái tạo các thể liên kết
photphat sinh năng lượng đ̣i hỏi cơ chất là protein.
NĂM 1985 NHÓM CHUYÊN VIÊN HỖN HỢP CỦA TỔ
CHỨC Y TẾ THẾ GIỚI (OMS) VÀ TỔ
chức nông nghiệp thực phẩm ( FAO) đă xem xét lại các
kết quả nghiên cứu về cân bằng ni tơ đă đi đến kết luận là nhu cầu protein của
người trưởng thành được coi là an toàn tính theo protein của sữa ḅ trong mỗi
ngày đối với 1 kg thể trọng là 0,75g cho cả 2 giới.
Trong thực tế, người ta ăn khẩu phần ăn hỗn hợp nhiều loại thực phẩm và Ở
CÁC NƯỚC phát triển như nước ta thường ăn nhiều thực phẩm nguồn gốc thực vật,
protein có giá trị sinh học thấp hơn nhiều so với trứng và sữa, hơn nữa cũng để
đảm bảo an toàn nên nhu cầu thực tế của protein nâng lên cao hơn. Người ta
thường tính nhu cầu thực tệ từ nhu cầu an toàn theo công thức sau:
Theo nghiên cứu của Viện Dinh dưỡng, hệ số sử dụng protein (NPU) trong các
LOẠI KHẨU PHẦN THƯỜNG GẶP Ở
nước ta là 60%, như vậy nhu cầu protein thực tế sẽ là :
Các nhà dinh dưỡng và sinh lư gần như đă thống nhất là nhu cầu tối thiểu về
protein là 1g/kg/ngày, nhiệt lượng protein khẩu phần trung b́nh là 12%.
NHU CẦU PROTEIN CAO HƠN Ở TRẺ EM, Ở
phụ nữ có thai và cho con bú. Nhu cầu protein của trẻ em
là:
0-12 tháng : 1,5 - 2,3 g/kg cân nặng/ngày.
1-3 tuổi : 1,5 - 2 g 1 kg cân nặng/ngày.
2. Nhu cầu lipit:
Nhu cầu về lipit hiện nay vẫn c̣n đang tiếp tục nghiên cứu để làm sáng tỏ.
Người ta thấy lượng lipit ăn vào của khẩu phần ăn hàng ngày ở CÁC NƯỚC KHÁC NHAU TRÊN THẾ GIỚI CHÊNH LỆCH NHAU RẤT
NHIỀU. Ở CÁC NƯỚC CHÂU Âu, Bắc Mỹ trong khẩu phần ăn có tới 150 g lipit một ngày
tức là chiếm khoảng 50% tổng số năng lượng của khẩu phần, trong khi đó NHIỀU
NƯỚC Ở CHÂU Á, châu Phi lượng lipit ăn vào
không quá 15 - 20g/1 người/1 ngày. Theo KẾT QUẢ CỦA CÁC CÔNG TR̀NH NGHIÊN CỨU
CHO THẤY Ở TẤT cả mọi nơi nếu muốn nuôi dưỡng
tốt lượng lipit nên có là 20% trong số năng lượng của khẩu phần và không nên
vượt quá 25-30% tổng số năng lượng của khẩu phần. Riêng đối với những người hoạt
động thể lực nặng, nhu cầu năng lượng cao trên 4000 Kcal/ngày lượng lipit tăng
lên nhưng cũng chỉ trong một thời gian ngắn.
Tuy nhiên nhu cầu chất béo c̣n phụ thuộc vào tuổi, tính chất lao động, đặc
điểm dân tộc, khí hậu. Người ta thấy nhu cầu lipit có thể tính tương ĐƯƠNG VỚI
LƯỢNG PROTEIN ĂN VÀO.
ở người c̣n trẻ và trung niên tỷ lệ
đó có thể là 1:1 nghĩa là lượng đạm và lipit ngang nhau trong khẩu phần.
Ở NGƯỜI ĐĂ đứng tuổi tỷ lệ lipit nên giảm bớt
và tỉ lệ lipit với protein là 0,7:1. Ở NGƯỜI GIÀ LƯỢNG lipit chỉ nên bằng 1/2
lượng protein.
Bảng 3: Bảng nhu cầu lipit tính theo g/kg cân nặng.
| |
Nam |
Nữ |
Người c̣n trẻ và trung niên
-Lao động trí óc + có khí
-Lao động chân tay |
1.5
2.0 |
1.2
1.5 |
Người luống tuổi
- Không lao động chân tay
- Có lao động chân tay |
0.7
1.2 |
0.5
0.7 |
3. Nhu cầu gluxit.
Nhu cầu gluxit từ trước chủ yếu xác định phụ thuộc vào tiêu hao năng lượng v́
cho rằng gluxit đơn thuần là nguồn cung cấp năng lượng. Ngày nay người ta thấy
gluxit có một số chức năng mà các chất dinh dưỡng khác không thể thay thế được.
Ví dụ hoạt động của tế bào năo, tế bào thần kinh thị giác, mô thần kinh đặc biệt
dựa vào glucose là nguồn năng lượng chính. Gluxit c̣n đóng vai tṛ quan trọng
khi liên kết với những chất khác tạo nên cấu trúc của tế bào, mô và các cơ quan.
Không những thế, chế độ ăn đảm bảo gluxit c̣n cung cấp cho có những chất cần
thiết khác.
Một số nghiên cứu về nhân chủng học và dinh dưỡng ở MỘT SỐ BỘ LẠC NGƯỜI ta chủ yếu ăn thịt động vật và chất
béo, lượng gluxit chỉ dưới 20% (người Eskimos). C̣n phần lớn mọi người đều ăn
chế độ hỗn hợp với lượng gluxit có từ 56-70% năng lượng. Cho đến nay nhu cầu về
gluxit luôn dựa vào việc thỏa măn nhu cầu về năng lượng và liên quan với các
vitamin nhóm B CÓ NHIỀU TRONG NGŨ cốc.
B. NHU CẦ U CHẤT KHOÁNG
Hiện nay người ta t́m thấy trong cơ thể con người có khoảng 60 nguyên tố
trong bảng hệ thống tuần hoàn Menđêlêep trong đó vai tṛ của nhiều nguyên tố
chưa được xác định. Nhưng mọi người đều thấy rơ vai tṛ của chất khoáng, nếu
trong khẩu phần để nuôi động vật thí nghiệm không có chất khoáng th́ động vật
nhanh chóng bị chết.
Chất khoáng là thành phần quan trọng của tổ chức xương có tác dụng duy tŕ áp
lực thẩm thấu, có nhiều tác dụng trong các chức phận sinh lư và chuyển hóa của
cơ thể ăn thiếu chất khoáng sinh nhiều bệnh. Thiếu iốt gây bướu cổ.
Thiếu fluo gây hà răng. Thiếu canxi sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của cơ tim, tới
chức phận tạo huyết và đông máu, gây bệnh c̣i xương ở trẻ em và xốp xương ở
người lớn và người già.
1. Sắt:
Trong số chất khoáng cơ thể cần, người ta chú ư trước hết tới sắt (Fe). C ơ
thể người trưởng THÀNH CÓ TỪ 3-4 GAM SẮT, TRONG ĐÓ 2/3 CÓ Ở hemoglobin là sắc tố của hồng cầu, phần c̣n lại dự trừ trong GAN.
MỘT PHẦN NHỎ HƠN CÓ Ở THẬN, lách và các cơ quan khác.
Mặc dù số lượng không nhiều nhưng sắt là một trong các thành phần dinh dưỡng
quan trọng nhất, có tầm quan trọng cơ bản đối với sự sống. Sắt là thành phần của
huyết sắc tố, myoglobin, các xitrocrom và nhiều enzim như catalaza và các
peroxidaza. Như thành phần của các phức chất ấy và của các men kim loại - hữu
cơ, sắt vận chuyển oxy và giữ vai tṛ quan trọng trong hô hấp tế bào.
Đời sống của hồng cầu khoảng 120 ngày nhưng lượng Fe được giải phóng không bị
đào thải mà phần lớn được dùng lại để tái tạo huyết sắc tố. Nhu cầu sắt thay đổi
tuỳ theo điều kiện sinh lư. Trẻ sơ sinh ra đời với một LƯỢNG SẮT DỰ TRỮ KHÁ LỚN
Ở gan và lách. Trong những tháng đầu, đứa trẻ sống dựa vào lượng sắt
dự trữ đó v́ trong sữa của người mẹ có rất ít chất sắt. Đó là lư do ngày nay
người ta khuyến khích các bà mẹ cho con ăn sam sớm hơn từ tháng thứ 5 so với
trước đây thường là tháng thứ sáu.
NHU CẦU SẮT Ở LỨA TUỔI trưởng thành tăng lên nhiều
do cơ thể phát triển nhiều tổ chức mới - mỗi NGÀY LƯỢNG SẮT MẤT ĐI Ở NGƯỜI
TRƯỞNG THÀNH VÀO KHOẢNG 1 MG Ở NAM VÀ 0,8 MG Ở NỮ NHƯNG Ở NỮ LẠI CÓ LƯỢNG sắt
mất thêm theo kinh nguyệt vào khoảng 2 mg/ ngày.
SẮT Ở THỊT ĐƯỢC HẤP THU khoảng 30%, đậu tương 20%, cá 15%, các thức ăn thực
vật như ngũ cốc, rau và đậu đỗ (trừ đậu tương) chỉ hấp thu khoảng 10%. Vitamin C
HỖ TRỢ HẤP THU SẮT C̉N CÁC PHYTAT, photphat cản trở sự hấp thu sắt. Nhu cầu phụ
của người mẹ khi có thai và tiết sữa xấp xi nhu cầu phụ do kinh nguyệt. Do trong
thời kỳ có thai và bắt đầu tiết sữa không có kinh nguyệt nên nhu cầu đối với
người phụ nữ có thai và cho con bú cũng giống như người phụ nữ trong thời kỳ
kinh nguyệt.
Nguồn sắt trong thức ăn: sắt có nhiều trong các thức ăn nguồn gốc động vật,
các hạt họ đậu nhất là đậu tương. Các loại rau quả cũng là nguồn sắt quan trọng
trong bữa ăn.
Các chế độ ăn hỗn hợp thường chứa khoảng 12-15 mg sắt trong đó 1mg được hấp
thu: chừng ấy dủ cho người nam giới trưởng thành nhưng thiếu đối với thiếu niên
và phụ nữ. Nhu cầu các đối tượng này theo các chuyên viên CỦA CÁC TỔ
CHỨC Y TẾ THẾ giới (OMS) là 24 - 28 mg. Trong trường hợp này cũng như ở NHỮNG
NƠI DÙNG NHIỀU thức ăn tinh chế công nghiệp, người ta khuyên nên tăng cường chất
sắt vào khẩu phần.
Bệnh thiếu máu thiếu sắt là một bệnh dinh dưỡng có tầm quan trọng lớn, tuy ít
khi gây tử vong, nhưng nó làm hàng triệu người ở TRONG T̀NH TRẠNG YẾU đuối, sức
khỏe kém. Trẻ em học kém do thiếu máu gây buồn ngủ và kém do thiếu máu gây buồn
ngủ và kém tập trung. Người lớn giảm khả năng lao động v́ chóng mệt phải nghỉ
luôn và nghỉ kéo dài. Thiếu máu đặc biệt gây nguy hiểm cho phụ nữ thời gian sinh
nở.
2. Canxi.
Trong cơ thể canxi chiếm vị trí đặc biệt. Canxi chiếm 1/3 khối lượng chất
KHOÁNG TRONG CƠ THỂ VÀ 98% CANXI NẰM Ở
xương và răng. Cho nên canxi rất cần thiết đối với trẻ em
có bộ xương đang phát triển và với phụ nữ có thai, cho con bú.
Trước đây do nghiên cứu thấy lượng canxi hấp thu thấp khí ăn từ chế độ giàu
sữa, giầu canxi chuyển sang chế độ ăn nhiều thực phẩm nguồn gốc thực vật và
nghèo canxi, nên các nhà dinh dưỡng có khuynh hướng đưa nhu cầu canxi hàng ngày
lên cao để đảm bảo an toàn. Nhưng các công tŕnh nghiên cứu gần đây cho thấy chỉ
khoảng sau vài tuần ăn khẩu phấn nhiều thực phẩm nguồn gốc thực vật và ít canxi
th́ cơ thể đă thích ứng, tiêu hóa hấp thu được phytat canxi có nhiều trong thực
phẩm nguồn gốc thực vật và do đó nhu cấu CANXI CÓ THỂ ĐẶT RA Ở
MỨC THẤP HƠN.
Ở NGƯỜI LỚN, KHOẢNG 400-500 MG/NGÀY, PHỤ NỮ CÓ thai trong 3
tháng cuối và cho con bú cần 1000-1200mg/ngày.
ĐIỀU TRA KHẨU PHẦN CỦA NHÂN DÂN Ở
cả hai miền Nam, Bắc đều có canxi chỉ đạt khoảng 400 mg
.
Lư do chính v́ trong khẩu phần ăn của ta có ít sữa, các loại thủy sản hoàn
toàn bỏ không ăn xương, một ít canxi có trong nước uống.
Trong 100g sữa ḅ có 120 mg canxi, trong 100g lương thực ( gạo, ngô, bột ḿ )
chỉ có khoảng 30 mg canxi. Trong thịt các loại chỉ có từ 10-20 mg canxi nhưng
trong các loại rau đậu đều có trên 60 mg, đặc biệt đậu tương có 165 mg và vừng
1200 mg. Những loại rau có trên 100 mg canxi trong 100 g rau gồm rau muống, mùng
tơi rau rền, rau đay, rau ngót. Các loại thủy sản thường có nhiều canxi, xương
cá cũng là một canxi tốt nếu ăn kho nhừ.
Tóm lại, trong cơ cấu bữa ăn nên có thêm đậu các loại nhất là đậu tương, có
thêm vừng lạc, rau quả , cá và thủy sản th́ ngoài việt có thêm protein và lipit,
chúng ta sẽ không lo thiếu canxi.
3. Iốt.
Iốt là thành phấn dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể. Đó LÀ THÀNH PHẦN CẤU TẠO của các nội tố của tuyến giáp trạng
tyroxin, tridotyroxin giữ vai tṛ chuyển hóa quan trọng. Khẩu phần đủ iốt là một
trong các yếu tố có ảnh hưởng quyết định đến sự tiết nội tố của tuyến giáp
trạng. Khi thiếu iốt tuyến giáp trạng tăng hoạt động, cố gắng bù trừ lượng thiếu
và tuyến giáp ph́ đại tạo nên bướu cổ.
Bệnh bướu cổ địa phương có mức độ khác nhau thường gặp ở MỘT SỐ ĐỐI TƯỢNG
nhân dân có khẩu phần nghèo iốt. Iốt trong thức ăn được hấp thu ở RUỘT NON VÀ ĐI
THEO 2 đường chính, khoảng 30% được sử dụng bởi tuyến giáp trạng đế tạo hóc môn,
phần c̣n lại ra theo nước tiểu. Nhu cầu đề nghị của người trưởng THÀNH LÀ 0,14
MG/NGÀY, Ở
phụ nữ là 0,10 mg/ngày. Nhu cầu ở NGƯỜI MẸ CHO CON BU CAO hơn b́nh thường 1,5 lần. Nguồn
iốt tốt trong thức ăn là các sản phẩm ở biển và các loại rau trồng trên đất
nhiều iốt. Sữa, các loại thức ăn có sữa và trứng là những nguồn Iốt khi các con
vật ăn thức ăn nhiều iốt. Phần lớn ngũ cốc, các hạt họ đậu và củ có lượng iốt
thấp. Ở CÁC VÙNG CÓ BỆNH bướu cổ, phương pháp chắc chắn và thực tế nhất để có
lượng iốt đầy đủ là tăng cường iốt cho muối ăn.
4. MUỐI ĂN.
ă n bao nhiêu muối mỗi ngày là vừa, đó là
một câu hỏi thường được đặt ra. Benedict đă nghiên cứu trên một người nhịn ăn
thấy rằng trong 10 ngày đầu, cơ thể người đó thải ra 13,9 g muối, 10 ngày sau
3,1 g và 10 ngày tiếp theo 2,6 g. Như vậy là trong 30 ngày, người này thải ra
khoảng 20% trong số 100 g muối có trong cơ thể.
Bunge đă làm những thí nghiệm trên bản thân ḿnh và thấy rằng người ta có thể
sống không cần ăn thêm muối nhưng nếu có muối th́ người ta có thể ăn nhiều loại
thức ăn. Ta ăn nhiều muối hơn nhu cầu cần thiết của cơ thể. Người ta đă phân
tích thấy rằng , trong thực phẩm hàng ngày dùng để nấu ăn trong thiên nhiên đă
có sẵn từ 3-5 g muối, trong quá tŕnh nấu nướng món ăn người ta cho thêm 5-10 g
và trong bữa ăn người ta dùng thêm khoảng 3-5 g trong nước chấm và muối chấm.
Cho nên trong 1 ngày trung b́nh ăn thêm 6-10 g muối là vừa. Nhu cầu muối đăng
lên nếu người ta lao động thể lực nặng, nếu khí hậu thời tiết nóng NỰC VÀ NẾU
LÀM VIỆC Ở
chỗ nóng. Trong trường hợp này, mồ hôi sẽ ra nhiều và cùng
với mồ hôi, cơ thể thải ra nhiều muối. Lượng muối này cần được bổ sung. Trước
đây có đề nghị bổ sung bằng nước muối. Nhưng sau người ta nhận thấy là uống nước
muối riêng sẽ có cảm giác khó chịu, buồn nôn, gần NHƯ Ở
TRẠNG thái ngộ độc.
Nếu bổ sung muối vào bữa ăn, thức ăn nấu mặn hơn, thêm muối vào nước rau hoặc
ăn cháo với các muối th́ người cảm thấy khỏe và dễ chịu hơn. Có THỂ GIẢI THÍCH
LÀ TRONG TRƯỜNG HỢP NÀY ION NATRI Ở MUỐI ĐĂ
ĐƯỢC CÁC ION KA LI Ở RAU, Ở gạo cân bằng,
không c̣n gây độc nữa.
Quen ăn mặn, ăn nhiều muối quá nhu cầu không tốt. Thống kê cho thấy số người
có thói quen ăn mặn dễ bị huyết áp cao. Lượng muối ăn thừa vào cơ thể sẽ giữ lại
nước trong cơ thể làm mệt tim v́ phải vận chuyển một khối lượng máu tăng lên và
làm mệt thận để lọc số muối thừa ra. Nếu thận kém không lọc được nếu tim yếu
không chuyển được máu về thận để lọc muối, CƠ THỂ SẼ GIỮ NƯỚC LẠI, GÂY PHÙ TỪ
NHẸ Ở MU BÀN CHÂN, Ở
mặt đến phù ở BỤNG. CHO NÊN, ĐỐI VỚI bệnh nhân tim và thận người ta hết
sức hạn chế cho ăn nhiều muối.
5. Các yếu tố vi lượng cần thiết khác.
Ngoài sắt và iốt, các yếu tố khác cần thiết cho cơ thể c̣n có fluo. kẽm, ma
giê , đồng, rôm, se len, coban và mohpđen. Kẽm là thành phần thiết yếu của
cacboanhydraza và nhiều men khác cần thiết cho chuyển hóa protein và gluxit.
Biểu hiện của thiếu kẽm là lớn không b́nh thường và chức phận sinh dục kém phát
triển. Nhiều trẻ em ăn uống kém, lười ăn cũng có thể do thiếu kẽm.
Nhu cầu kẽm của người trưởng thành khoảng 2,2 mg/ngày. Lượng kẽm trong khẩu
phần cần có để đáp ứng nhu cầu thay đổi theo cơ cấu của khẩu phần và lượng kẽm
được sử dụng. Mức sử dụng chỉ 10% th́ cần 22 mg để đáp ứng nhu cầu, Trong thời
kỳ lớn , có thai và cho con bú nhu cầu cần cao hơn. Thức ăn động vật là nguồn
kẽm tốt: thịt ḅ, lợn có từ 2-6 mg/100g, sữa từ 0,3-0,5 mg, cá và hải sản
1,5g/100g, bột ngũ cốc cũng có nhưng phần lớn đă bị mất trong quá tŕnh xay xát.
- TRONG CƠ THỂ CÓ KHOẢNG 20-25 G MAGIÊ . ĐÓ
là yếu tố cần thiết cho hoạt động nhiều loại men
tham gia vào các phản ứng oxy hóa và phosphoryl hóa số lượng TẠM THỜI VỀ NHU CẦU
Ở
người trưởng thành khoảng 200-300 mg/ngày. Magiê có NHIỀU
TRONG THỨC ĂN THỰC VẬT, Ở
thịt và gia cầm cũng khá.
Mặc dù vai tṛ của nhiều vi yếu tố khác đă được chứng minh nhưng c̣n thiếu cơ
sở khoa học để xác định nhu cầu của chúng.
C. NHU Cầu VITAMIN
Vitamin là những chất hữu cơ cần thiết với cơ thể và tuy nhu cầu đ̣i hỏi với
số lượng ít, nhưng chúng bắt buộc phải có trong thức ăn. Tên gọi "vitamin", có
từ năm 1912 do nhà khoa học Ba lan Funk với ư nghĩa đó là những "amin sống". Tuy
nhiên người ta đă nhanh chóng thấy rơ là các vitamin về hóa học không cùng họ
với nhau và chỉ một số là các amin.
Từ lâu vitamin đă được chia thành hai nhóm: các vitamin tan trong nước và các
vitamin tan trong chất béo. Các vitamin tan trong nước khi thừa đều bài xuất
theo nước tiểu như vậy ít có đe dọa xảy ra t́nh trạng nhiễm độc vitamin. Ngược
lại các vitamin tan trong chất béo không thể đào thải theo con đường đó mà các
lượng thừa đều được dự trữ trong các mô mỡ, gan. Khả năng tích lũy cua gan lớn
nên có thể có dự trữ đủ cho cơ thể trong thời GIAN DÀI. TUY VẬY MỘT LƯỢNG QUÁ
CAO VITAMIN
A VÀ D có thể gây ngộ độc.
CÁC TIỂU BAN CHUYÊN VIÊN VỀ DINH DƯỠNG CỦA TỔ CHỨC Y tế thế giới đă đề nghị về
nhu cầu của một số vitamin quan trọng như sau:
1. VITAMIN A ( Retinol ) .
VITAMIN A CÓ nhiều chức phận quan trọng trong cơ thể, trước hết là vai tṛ
với quá tŕnh nh́n. Andehyt của retinol là thành phần thiết yếu của sắc tố vơng
mạc Rodopsin. Khi gặp ánh sáng sắc tố này mất màu và quá tŕnh này kích thích
CÁC TẾ BÀO QUE Ở vơng mạc để nh́n thấy ánh sáng yếu.
VITAMIN A CẦN thiết để giữ ǵn sự toàn vẹn lớp tế bào biểu mô bao phủ bề mặt
và các KHOANG TRONG CƠ THỂ. THIẾU VITAMIN A GÂY KHÔ DA THƯỜNG THẤY Ở
màng tiếp hợp, khi lan tới giác mạc th́ thị lực bị
ảnh hưởng và gây mềm giác mạc. Thiếu vitamin c̣n gây tăng sừng hóa nang lông, bề
mặt da thường nổi gai. Thiếu vitamin
A LÀM GIẢM TỐC ĐỘ TĂNG trưởng, giảm sức đề kháng của cơ
thể đối với bệnh tật và tăng tỷ lệ tử VONG Ở TRẺ em.
VITAMIN A CHỈ có trong các thức ăn nguồn gốc động vật, cơ thể có thể tạo
thành vitamin A TỪ CAROTEN LÀ LOẠI SẮC tố rất phổ biến trong thức ăn nguồn gốc
thực vật, trong đó b
-caroten là quan trọng nhất.
Trong cơ thể cứ 2mcg b -caroten cho 1 mcg retinol,
sự HẤP THỤ CAROTEN Ở ruột non không hoàn toàn, trung b́nh vào khoảng 1/3. Như
vậy cần eo 6 mcg -caroten trong thức ăn để có 1 mcg retinol. Khi tính hàm lượng
vitamin A TRONG KHẨU PHẦN NÊN tách phần vitamin A, phần caroten và phải sử dụng
hệ số chuyển đổi nói trên để tính ra lượng retinol thực sự.
1. ĐƠN VỊ QUỐC TẾ (UI) VITAMIN A
tương đương 0,3 mcg retinol kết tinh. Nhu cầu vitamin
A Ở TRẺ EM LÀ 300 MCG VÀ Ở NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH LÀ 750 MCG.
TRẺ EM KHI ĐẺ RA ĐĂ CÓ NGUỒN VITAMIN A
dự trữ trong gan sau đó là nguồn vitamin
A TRONG SỮA MẸ DO ĐÓ cần quan tâm đến chế độ ăn của người
mẹ khi có thai và cho eon bú.
2. Vitamin D3 ( Colecanxiferol ).
VAI TR̉ CHÍNH CỦA VITAMIN D
là tạo điều kiện thuận lợi cho sự hấp thu canxi ở TÁ TRÀNG. ĐÓ LÀ MỘT CHẤT RẤT HOẠT động, một đơn vị quốc
tế (UI) chỉ bằng 0,025 mcg.
HIỆN NAY NGƯỜI TA BIẾT RẰNG Ở
gan, Colecanxiferol sẽ chuyển thành hydroxy-25 sau đó
chuyển SANG DIHYDROXI 1-25 Ở thận, đó là
những dạng hoạt động hơn vitamin D.
DẦU CÁ THU LÀ NGUỒN VITAMIN D
tốt, ngoài ra có kể đến gan, trứng, bơ. Thức ăn thực VẬT
HOÀN TOÀN KHÔNG CÓ VITAMIN D. NGUỒN VITAMIN
D quan trọng cho cơ thể là sự nội
tổng hợp trong da dưới tác dụng của tia tử ngoại ánh sáng mặt trời.
NHU CẦU ĐỀ NGHỊ LÀ 10 MCG Ở
trẻ em tính ra đơn vị quốc tế là 400UI. Người trưởng thành
nếu điều kiện sống thiếu ánh sáng nên có 100 đơn vị quốc tế mỗi ngày.
3. Vitamin B1 ( Thiamin ).
Trong các mô động và thực vật, thiamin là yếu tố cần thiết để sử dụng GLUXIT.
V̀ THẾ MỌI THỨC ĂN ĐỀU CÓ THIAMIN NHƯNG Ở lượng thấp.. Các loại hạt cần dự
trữ thiamin cho quá tŕnh nảy mầm cho nên ngũ cốc và các hạt họ đậu là những
nguồn thiamin tốt. Những thức ăn thiếu th́a min là các loại đă qua chế biến ví
dụ như gạo giă trắng, các loại ngũ cốc, dầu mỡ tinh chế và rượu. Thiamin của các
loại men sử dụng để lên men không c̣n trong bia, rượu vang cũng như các loại
rượu khác.
Nhu cầu thiamin cần đạt là 0,40 mg/ 1000Kcalo. Khi lượng đó thấp hơn 0,25
mg/1000Kcalo, bệnh tê phù có thể xảy ra. Nhu cầu thiamin sẽ được thỏa măn, khi
lương thực cơ bản không xay xát trắng quá, chế độ ăn có nhiều hạt họ đậu, ngược
lại thiếu thiamin sẽ xuất hiện khi sử dụng nhiều lương thực xay xát trắng, đường
ngọt và rượu.
4. Vitamin B2 ( Riboflavin ).
Rilbonavin giữ vai tṛ chủ yếu (cùng nhóm với axit nicotinic) trong các phản
ỨNG OXY HÓA Ở TẾ BÀO TRONG TẤT CẢ CÁC MÔ Ở
cơ thể.
Ribonavin phổ biến trong thức ăn, có nhiều trong thức ăn động vật, sữa, các
loại rau, tậu, bia. Các hạt ngũ cốc toàn phần là nguồn B2 tốt nhưng giảm đi
nhiều qua quá tŕnh xay xát.
THEO TỔ CHỨC Y tế Thế giới (OMS) nhu cầu
vitamin B2 là 0,55mg/1000 Kcalo.
5.Niaxin.
Niaxin là yếu tố pḥng bệnh Pelagrơ, một bệnh viêm da đặc hiệu do dinh dưỡng
đă được mô tả từ năm 1730 và trước đây thường lưu hành ở CÁC VÙNG CHỦ YẾU ÁN
NGÔ, Ở NAM MỸ VÀ ĐỊA TRUNG HẢI. TRONG CÁC MÔ ĐỘNG VẬT NÓ Ở
dưới dạng nicotinamit, c̣n trong các MÔ THỰC VẬT
DƯỚI DẠNG AXIT NICOTINIC. ĐÓ
là vitamin bền vừng nhất đối với nhiệt, oxy hóa và các
chất kiềm.
Niaxin và amit của nó có vai tṛ cốt yếu trong các cơ chế oxy hóa để giải
phóng năng lượng của các phân tử gluxit, lipit, protein. Trong cơ thể Niaxin có
thể được tạo thành từ tryptophan.
Một đương lượng Niaxin tương đương 1 mg Niaxin hay 60 mg tryptophan. Nhu CẦU
ĐỀ NGHỊ CỦA OMS là 6,6 đường lượng
Niaxin/1000 Kcalo.
6. VITAMIN C ( Axit aseorbic )
Trong số 160 thủy thủ theo Vasco de Gam t́m đường sang phương Đông, 100 người
đă chết v́ bệnh Scobut đó là v́ trong khẩu phần dự trữ đi biển thời ấy thiếu rau
quả tươi.
TRONG CƠ THỂ VITAMIN C tham gia vào các phản ứng oxy hóa khử. Đó là yếu tố CẦN
THIẾT CHO TỔNG HỢP COLAGEN LÀ CHẤT GIAN BÀO Ở các thành mạch, mô liên kết, xương,
răng. Khi thiếu , bệnh nhân có biểu hiện xuất huyết, các vết thương lâu thành
sẹo. Người ta nhận thấy khi cơ thể bị bỏng, găy xương, mổ xẻ hay NHIỄM KHUẨN TH̀
LƯỢNG VITAMIN
C trong dịch thể và các mô giải xuống nhanh.
VITAMIN C CÓ NHIỀU TRONG CÁC QUẢ CHÍN. RAU
XANH CÓ NHIỀU VITAMIN C
nhưng bị hao hụt nhiều trong quá tŕnh nấu nướng.
Khoai tây, khoai lang cũng là nguồn vitamin
C TỐT. LƯỢNG VITAMIN C CẦN THIẾT HÀNG NGÀY cho người
trưởng thành, trẻ em và thiếu niên là 30 mg/ngày.
7. Axit Folic.
Người ta đă phát hiện thấy axit folic cần thiết cho sự phát triển và sinh
trưởng b́nh thường của cơ thể. Khi thiếu gây ra loại thiếu máu dinh dưỡng ĐẠI
HỒNG CẦU, THƯỜNG GẶP Ở
phụ nữ có thai. Axit folic và các loại folat có nhiều
trong các loại rau có lá ( folium - lá) nhu cầu đề nghị 200 mcg mỗi ngày ở NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH.
8. Vitamin B12 ( Xianocobalamin ).
Khác với nhiều vitamin khác các loại thực vật cao cấp không tổng hợp được
vitamin B2, chất này chỉ có trong thức ăn động vật mà nguồn phong phú là gan.
Bệnh thiếu máu ác tính xuất hiện khi dạ dày không tiết ra một chất cần thiết
(yếu tố nội) cho sự hấp thụ xianocobalamin (yếu tố ngoại). Trước khi phát hiện
ra vitamin Bi2, đây là một bệnh hiểm nghèo gây chết trong ṿng 2 ĐẾN 5NĂM. T̀NH
TRẠNG THIẾU VITAMIN BI2 HAY GẶP Ở NHỮNG người
ăn thức ăn thực vật là chủ yếu hoặc ở những người ăn chay, nhu cầu đề nghị là
2mcg/ ngày
D. TÍNH C?N ĐỐI CỦA KHẨ U PHẦN
1. Cơ cấu bữa ăn và mô h́nh bệnh tật.
NHỮNG TÀI LIỆU CỦA TỔ
chức nông nghiệp thực phẩm và tổ chức
Y TẾ THẾ GIỚI (FAO/OMS) về cơ cấu khấu phần (tính theo %
năng lượng) ở các nước trên thế giới xếp theo mức thu nhập quốc dân tính theo
đầu người đă được tŕnh bày ở H̀NH SAU:
Qua h́nh vẽ này có thể có nhận xét sau đây:
- Về protein: tỷ lệ chung năng lượng do protein cua các loại khẩu phần
không khác nhau nhiều (chung quanh 12% nhưng năng lượng do protein nguồn gốc
động vật tăng dần khi thu nhập quốc dân càng cao).
- Về lipit: mức thu nhập càng cao th́ tỷ lệ năng lượng do lipit (nhất là
lipit nguồn gốc động vật) càng cao.
- Về gluxit: mức thu nhập càng cao th́ năng lượng do gluxit nói chung và tinh
bột nói riêng giảm dần nhưng năng lượng do các loại đường ngọt (saccaroza) tăng
lên.
MÔ H̀NH BỆNH TẬT CŨNG THAY ĐỔI THEO CƠ CẤU BỮA ĂN,
Ở các nước nghèo, mức sống c̣n thấp thường gặp các bệnh nhiễm khuẩn,
bệnh lao và các bệnh thiếu dinh dưỡng. Theo số liệu của tổ chức Y TẾ THẾ GIỚI, MỖI NGÀY TRÊN THẾ GIỚI có khoảng 40.000 trẻ em chết
do thiếu dinh dưỡng nặng, hàng năm có khoảng 250.000 trẻ em bị mù do thiếu
vitamin A. Số người bị thiếu máu dinh dưỡng ước tính đến 2000 triệu người và 400
triệu người khác bị bướu cổ do THIẾU IỐT.
ở nhiều nước đă phát triển, nhiệt lượng b́nh quân
hằng ngày đạt trên 3000 Kcalo/ người ( châu âu 3000 Kcal, Bắc Mỹ 3100 KCAL,
ÚC 3200 KCAL) LƯỢNG chất béo sử dụng hàng ngày trên 100g/người ( Bắc Mỹ 146 g,
Tây âu 118 g, ÚC 136 G ) CHIẾM 40% TỔNG SỐ NHIỆT LƯỢNG ĂN VÀO. Ở CÁC nước
này bệnh béo ph́ , vừa xơ động mạch, bệnh cao huyết áp và tim mạch, bệnh đái
đường... là những vấn đề sức khỏe xă hội quan trọng. Theo thống KÊ Ở PHÁP 15% SỐ
DÂN BỊ BỆNH HUYẾT ÁP CAO, 3% BỊ BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG, Ở Đức trên 20% người trưởng thành bị bệnh béo ph́, tỷ lệ này Ở
NỮ CAO HƠN Ở NAM, Ở NÔNG THÔN CAO HƠN Ở thành phố.
Như vậy một chế độ ăn quá nhiều nhiệt lượng, nhiều thịt, nhiều mỡ trái lại
cũng có hại đối với sức khỏe. Theo hiểu biết hiện nay, lư luận sinh dưỡng cân
đối là căn cứ khoa học để xây dựng cơ cấu bữa ăn hợp lư.
2. Những yêu cấu về dinh dưỡng cân đối.
a) Cân đối về năng lượng:
Yêu cầu đầu tiên và quan trọng nhất của dinh dường cân đối là xác định được
mối tương quan hợp lư giữa các thành phần dinh dưỡng có hoạt tính sinh học chủ
yếu là protein, lipit, gluxit, vitamin và các chất khoáng tùy theo tuổi, giới,
tính chất lao động và. cách sống. Từ buổi đầu của.khoa học dinh dưỡng, các tác
giả kinh điển như Voi, Saternikov đă cho rằng tương quan hợp lư giữa P:L:G trong
khẩu phần nên là 1:1:5 (nghĩa là 1g protein nên có..1g lipit và 5g gluxit).
Cách tŕnh bầy nguyên tắc cân đối như trên đă được tiếp tục măi cho tới nay
và có thời kỳ người ta cho rằng tỷ lệ l:1:4 là hợp lư nhất. Những nghiên cứu sau
này cho thấy công thức trên chỉ thích hợp cho những người lao động thể lực hoặc
có nếp sống hoạt động. Với công thức 1:1:4 năng lượng do protein vào khoảng 14%
do lipit 30%, do gluxit 56%. Hiện nay người ta thường thể hiện tính cân đối giữa
protein, lipit, gluxit và cả các thành phần dinh dưỡng khác trong khẩu phần
không theo đơn vị trọng lượng (gam) mà theo đơn vị năng lượng. Cho đến nay những
ư kiến về tính cân đối giữa P:L:G trong khẩu hoàn toàn nhất trí.
VỀ PROTEIN, QUA ĐIỀU TRA KHẨU PHẦN Ở
nhiều nơi trên thế giới thấy rằng năng lượng do protein
thường dao động chung quanh 12% " 1.
Ở NƯỚC TA, THEO Viện Dinh dưỡng năng lượng do
protein nên đạt từ 12-14% tổng số năng lượng.
Về chất béo, năng lượng do lipit so với tổng số năng lượng nên vào khoảng
20-25% tùy theo ở vùng khí hậu nóng, rét và không nên vượt quá 30%. Khi tỷ lệ
này vượt quá 30% hoặc thấp hơn 10% đều có những ảnh hưởng bất lợi đối với sức
khỏi ảnh hường của khí hậu cũng cần được chú ư.
Người ta khuyên nên tăng thêm 5 % cho những vùng có khí hậu lạnh và giảm 5 %
CHO NHỮNG VÙNG CÓ KHÍ HẬU NÓNG. Ở ta năng lượng do lipit trước mắt cần phấn đấu đạt 10-12 %
tổng số năng lượng và khi có điều kiện tăng lên 15-18 % và v́ dân ta ở xứ nóng
không quen ăn nhiều chất béo
Cho nên không nên vượt quá 20% tổng số năng lượng.
b) Cân đối về protein: Ngoài tương quan với tổng số năng lượng như đă nói
ở trên, trong thành phần protein cần có đủ axit amin cần thiết ở tỷ lệ cân đối
thích hợp.
Do các protein nguồn gốc động vật và thực vật khác nhau về chất lượng nên
người ta hay dùng tỷ lệ % protein nguồn gốc động vật trên tổng số protein để
đánh giá mặt cân đối này. Trước đây nhiều tài liệu cho rằng lượng protein nguồn
gốc động vật nên đạt 50-60% tổng số protein và không nên thấp hơn 30 %. Gần đây
nhiều tác giả cho rằng đối với người trưởng thành một tỷ lệ protein động vật vào
khoảng 25-30 % tổng số protein là thích hợp c̣n đối với trẻ em tỷ lệ này nên cao
hơn.
c) Cân đối về lipit
Một mặt, đó à tỷ lệ năng lượng do lipit so với tổng số năng lượng, mặt khác
đó là yêu cầu cân đối giữa các axit béo trong khẩu phần, trên thực tế biểu hiênẹ
bằng tương quan giữa lipit nguồn gốc động vật và thực vật.
Trong các mỡ động vật có nhiều axit béo no, trong các dầu thực vật có nhiều
axit béo chưa no. Các axit béo no gây tăng các lipoprotein có tỷ trọng thấp (Low
Density Lipoprotein LDL) vận chuyển cholesterol từ máu tới các tổ chức VÀ CÓ THỂ
TÍCH LŨY Ở
các hành động mạch. Các axit béo chưa no gây tăng các
lipoprotein có tỷ trọng cao (High Density Lipoprotein HDL) đưa cholesterol từ
các mô đến gan đế thoái hóa.
Theo nhiều tác giả, trong chế độ ăn nên có 20-30% tổng số lipit có nguồn gốc
thực vật. Về tỷ lệ giữa các axit béo, trong khẩu phần nên có 10% là các axit béo
chưa no có nhiều nối kép, 30% axit béo no và 60% axit béo chưa no có một nối kép
( ax́t oleic ).
Khuynh hướng thay thế hoàn toàn mỡ động vật bằng các dầu thực vật là không
hợp lư bởi v́ các sản phẩm oxy hóa (các peroxit) của các axit béo chưa no là
những chất có hại đối với cơ thể.
d) Cân đối về gluxit
Gluxit là thành phần cung cấp năng lượng quan trọng nhất của khẩu phần.
GLUXIT EO VAI TR̉ TIẾT KIỆM PROTEIN, Ở
khẩu phần nghèo protein, cung cấp đủ gluxit th́ lượng ni
tơ ra theo nước tiểu sẽ thấp nhất.
Trong các hạt ngũ cốc và hạt họ đậu, nguồn gluxit thường đi kèm theo một
lượng tương ứng các vitamin nhóm B, nhất là B1 cần thiết cho chuyển hóa gluxit.
Các loại đường ngọt, gạo bột xay xát quá trắng thường thiểu B1. Mặt khác trong
các loại rau quả, khoai củ có nhiều xenluloza có giá trị nhất, ở ĐÂY CHÚNG THƯỜNG ĐI kèm theo những chất pectin là những
chất chỉ có trong rau quả. Pectin ức chế CÁC HOẠT ĐỘNG GÂY THỐI Ở
ruột và như vậy tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động các
vi khuẩn có ích. Cân đối giữa sacaroza và fructoza cũng có ư nghĩa trong PH̉NG
BỆNH XƠ MỠ ĐỘNG MẠCH. V̀ THẾ Ở
KHẨU phần có nhiều sacaroza phải có một lượng quả thích
đáng.
Chúng ta cần nhớ rằng các yêu cầu cân đối nói trên chỉ được xét đến khi khẩu
phần đảm bảo năng lượng.
e) Cân đối về các vitamin:
Vitamin tham gia vào nhiều chức phận chuyển hoá quan trọng của cơ thể, v́ vậy
nhu cầu vitamin phụ thuộc vào cơ cấu các thành phần dinh dưỡng khác trong khẩu
phần. Mấy điểm sau đây đáng chú ư nhất:
CÁC VITAMIN NHÓM B cần thiết cho chuyển
hóa gluxit, do đó nhu cầu của chung thường tính THEO MỨC NHIỆT LƯỢNG CỬA KHẨU
PHẦN. THEO TỔ CHỨC Y
tế thế giới ( FAO/OMS) cứ 1000 Kcalo của khấu phần
cần có 0,4 mg vitamin B1, 0,55 mg B2, 6,6 đương lượng naxin. T́nh trạng gạo xát
trắng quá làm mất nhiều vitamin B1 là mối đe dọa gây ra nhiều BỆNH TÊ PHÙ Ở
nhiều nơi hiện nay.
Chế độ ăn có nhiều chất bốc làm tăng nhu cấu về vitamin E (TOEOFEROL) LÀ CHẤT
chống oxy hóa của các chất béo tự nhiên, ngăn ngừa hiện tượng peroxit hóa các
lipit. Các loại dầu thực vật dầu ngô, dầu đậu tương ) có nhiều tocoferol, ngoài
ra các loại hạt náy mầm (mầm ngô, mầm lúa mỹ, giá đậu) cũng là nguồn tocoferol
tốt.
- Cung cấp đầy đủ, protein là điều kiện cần cho hoạt động b́nh thường CỦA
NHIỀU VITAMIN. ĐỐI VỚI VITAMIN A
hàm lượng protein trong khẩu phần vừa phải tạo điều KIỆN
CHO TÍCH LŨY VITAMIN A
trong gan nhưng khi tăng lượng protein lên tới 30-40% th́
SỬ DỤNG VITAMIN A đăng lên do đó tạo điều
kiện xuất hiện sớm các biểu hiện thiếu vitamin A. Ngược lại, khẩu phần nghèo
protein th́ các biểu hiện thiếu vitamin
A SẼ KÉO DÀI. V̀ VẬY KHI DÙNG CÁC THỨC ĂN GIÀU protein như
sữa gầy cho trẻ em suy dinh dưỡng phải cho thêm vitamin
A CŨNG NHƯ KHI ĐIỀU TRỊ BỆNH THIẾU VITAMIN A PHẢI KÈM THEO
ĐĂNG PROTEIN THÍCH ĐÁNG.
g) Cân đối về chất khoáng:
Các hoạt động chuyển hóa trong cơ thể được tiến hành b́nh thường là nhờ tính
ổn định của môi trường bên trong cơ thể. cân bằng toan kiềm để DUY TR̀ TÍNH ỔN
ĐỊNH ĐÓ .
ở các loại thức ăn mà trong thành phần có
các yếu tố kiềm ( các cation) như Ca, Mg, K... chiếm ưu thế, người ta GỌI
LÀ CÁC THỨC ĂN GÂY KIỀM, NGƯỢC LẠI Ở
một số thức ăn khác, các yếu tố toan (các anion) như Cl,
P, S... chiếm ưu thế người ta gọi là các thức ăn gây toan. Nh́n chung,
các thức ăn nguồn gốc thực vật (trừ ngũ cốc) là thức ăn gây kiềm, các thức ăn
nguồn gốc động vật (trừ sữa) là các thức ăn gây toan. Chế độ ăn hợp lư nên có ưu
thế kiềm. Tương quan giữa các chất khoáng trong khẩu phần cũng cần được chú ư.
Người ta thấy trong khẩu phần được hấp thu tốt khi tỷ lệ CA/P lớn hơn 0,5 và có
đủ vitamin D. Tỷ số Ca/mg trong khẩu phần nên là 1/0,6. Các vi yếu tố giữ vai
tṛ quan trọng trong bệnh sinh nhiều bệnh địa phương như bướu cổ, sâu răng,
nhiễm độc fluo... Người ta đă thấy mối quan hệ (tương hỗ hay tương phản) giữa
các yếu tố trong khẩu phần có vai tṛ trong bệnh sinh các bệnh trên nhưng c̣n
thiếu cơ sở để đề ra các yêu cầu cân đối cụ thể.
Mục lục
|
|
HỆ THỐNG
PHẦN MỀM QUẢN LƯ BỆNH VIỆN

HT MEDSOFT
|
|
|

BS PHAN XUÂN TRUNG
"Lăng tử giữa thương trường"

WHO
definition of HEALTH:
Health is a state of complete physical, mental and social well-being and
not merely the absence of disease or infirmity.

Hệ thống phần mềm quản lư bệnh viện
YKHOA.NET
|
|