DINH DƯỠNG VÀ AN TOÀN THỰC PHẨM
CHƯƠNG IV: DINH DƯỠNG HỢP LƯ VÀ LAO ĐỘNG
Xét về góc độ đóng góp cho xă hội và gia đ́nh,
lứa tuổi lao động là lứa tuổi quan trọng nhất của cuộc đời. Con NGƯỜI ĐANG Ở
đỉnh cao về sức khỏe và tài năng, đang gánh vác những trọng trách cả trong gia
đ́nh và xă hội, đồng thời cũng là lứa tuổi mà cơ thể đă ở VÀO THẾ ỔN ĐỊNH, CÂN
bằng cả về thể chất lẫn tinh thần. Đây cũng là lứa tuổi con người làm ra của cải
vật chất, làm chủ đồng tiền nên bên cạnh sự đúng mức, từng trải của con người
trưởng thành, cũng không ít người chạy theo những đam mê không có lợi cho sức
khỏe như thuốc lá nghiện hút rượu.
Mọi người đều mong muốn có một cuộc đời lao động đầy sáng tạo, giừ măi đượm
nét trẻ trung về thể chất lẫn tinh thần mặc dù năm tháng phôi PHA. Y HỌC CHO
thấy những tổn thương bệnh lư thường h́nh thành từ lúc c̣n trẻ và tuổi càng cao
th́ sẽ xuất hiện dù kẻ sớm người muộn thành các bệnh cụ thể. Như nhà thơ Puskin
đă viết: Hăy giữ ǵn danh dự từ khi c̣n trẻ trung điều đó đúng cả trong giừ ǵn
sức khỏe. Dinh dưỡng hợp lư, duy tŕ nếp sống lành mạnh là những nhân tố cần
thiết cho một sức khỏe trẻ trung và bền bỉ.
I. DINH DƯỡNG Và LAO ĐộNG THể LựC
Phân chia lao động ra hai loại lao động trí óc và chân tay thật ra không hợp
lư v́ với tŕnh độ cơ khí hóa ngày càng cao nhiều loại lao động gọi là chân tay
đă trở thành trí óc, tiêu hao rất ít năng lượng, ngược lại nhiều người làm việc
trí óc lại có nếp sống rất hoạt động tiêu hao nhiều năng lượng.
Hai loại hiện tượng sau đây làm cơ sở cho nguyên tắc dinh dưỡng những người
lao động. Một mặt sinh lư học và sinh hóa học đă xác nhận rằng thức ĂN CỦA CƠ LÀ
GLUCOZA. CƠ
mất năng lượng trong quá tŕnh thoái hóa kỵ khí (nghĩa là
không có oxy) glycogen thành axit lactic. Cơ lấy lại năng lượng đă mất nhờ oxy
hóa axit lactic thành CO2 và nước. Như vậy cần cung cấp gluxit cho cơ TRONG LAO
ĐỘNG VÀ Ở những người lao động gắng sức,
đường có tác dụng rơ rệt. Mặt khác, lượng protein trong khẩu phần người lao động
luôn luôn cao hơn ở NGƯỜI NHÀN RỖI, ĐÂY nói đến tăng số lượng tuyệt đối v́ tỷ lệ
phần trăm năng lượng do protein cung cấp vẫn không thay đổi khi tổng số năng
lượng tăng lên. Nhiều nghiên CỨU VỀ SINH LƯ CHO THẤY Ở
khẩu phần nghèo protein, lực của cơ nhất là khả năng lao
ĐỘNG NẶNG GIẢM RƠ RỆT ĐÓ
là do protein tuy không có những tác dụng tức th́ đến lao
động cơ mà chúng c̣n tác dụng thông qua trung gian của hệ thống nội tiết và thần
kinh thực vật để duy tŕ một trương lực (tonus) cao hơn. V́ thế, thức ăn của cơ
là glueoza nhưng khẩu phần người lao động cần có lượng protein tương ứng từ 10
đến 15% đổng số năng lượng.
1. NGUYÊN TẮC ĐẦU TIÊN CỦA DINH DƯỠNG HỢP LƯ Ở người lao dộng là đáp ứng nhu cầu
năng lượng.
Tiêu hao năng lượng của người lao động thay đổi tùy theo cường độ lao động,
thời gian lao động, tính chất cơ giới hóa và tự động hóa quá tŕnh sản xuất.
Tùy theo cường độ lao động người ta chia ra:
- Lao động rất nhẹ (tĩnh tại) dưới 120 Kcalo/giờ
- Lao động nhẹ : 120-240 Kcalo/ giờ
- Lao động trung b́nh: 240-360 Kcalo/ giờ
- Lao động nặng: 360-600 Kcalo/ giờ
2. Nguyên tắc thứ hai là chế độ ăn phải đáp ứng đủ nhu cầu các chất dinh
dưỡng:
- Trước hết nói về protein:
Chưa có các công tŕnh nào nói rằng ăn càng nhiều
protein th́ lao động càng tốt. Như trên đă nói, trong khẩu phần người lao động
cần có tỷ lệ 10-15% năng lượng do protein. Như vậy khi tăng tiêu hao năng lượng
th́ số lượng protein trong khẩu phần sẽ tăng theo. Tỷ lệ protein nguồn gốc động
vật nên đạt 50-60% tổng số protein.
- Về lipit và gluxit: Năng lượng trong khẩu phần
chủ yếu do gluxit và lipit cung cấp. Chúng ta biết rằng 1g lipit khi chuyển hóa
trong cơ thể cho 9 Kcalo trong khi đó 1g gluxit chỉ cho 4 Kcalo.
V̀ THẾ Ở CÁC LOẠI lao động nặng, để thỏa măn
nhu cầu năng lượng người ta khuyên nên tăng tỷ lệ chất béo lên để khẩu phần
không quá cồng kềnh. Nhưng cũng có nhiều người lo ngại rằng một chế độ ăn nhiều
lipit, nhất là lipit động vật kéo dài sẽ là yếu tố nguy cơ của xơ mỡ động mách.
Do đó người ta khuyên rằng chế độ ăn tăng lipit chỉ áp dụng trong thời gian lao
động có tiêu hao năng lượng cao c̣n sau đó th́ nên trở về chế độ ăn b́nh thường.
Ở NƯỚC TA, VIỆN DINH DƯỠNG ĐĂ đề nghị như sau:
- Protein: 12% nhu cầu năng lượng.
- Lipit: 15-20% nhu cầu năng lượng.
- Gluxit: 65-70% nhu cầu năng lượng.
- Vitamin và chất khoáng:
+ Các vitamin tan trong chất béo không thay đổi theo cường độ lao động,
tiêu chuẩn giống như ở người trưởng thành, lao động b́nh thường.
+ Các vitamin tan trong nước (nhóm B, C) nhất là các vitamin nhóm
B NÓI CHUNG TỶ LỆ VỚI năng lượng khẩu phần. Cũng cần tăng
vitamin nhóm này khi lao động ở MÔI TRƯỜNG NÓNG MỒ hôi ra nhiều. Chúng c̣n thay
đổi tùy theo cấu trúc của bữa ăn. Nhiều trường hợp chỉ lo tăng lượng của khẩu
phần (bồi dưỡng giữa ca bằng bánh kẹo ngọt) mà không kêm theo tăng cân đối các
vitamin nên đẫ gây nên các hiện tượng thiếu vitamin B1 hay niaxin, đó là điều
cần chú ư.
Một số nghiên cứu nói đến tác dụng tốt của một số vitamin ở LIỀU CAO ĐỐI VỚI
NĂNG suất lao động và chống mệt mỏi. Xét đến vai tṛ sinh lư của vitamin B1 đối
với chuyển hóa năng lượng và sử dụng gluxit th́ nên áp dụng một lề an toàn KHÁ
RỘNG VỀ VITAMIN NÀY Ở
những người lao động nặng và thông qua một chế .độ ăn uống
hợp lư. Việc áp dụng một liều cao các vitamin này là không cần thiết và không
sinh lư.
+ Nhu cầu các chất khoáng nói chung giống như người trưởng thành.
3. Nguyên tắc thứ ba là thực hiện một chế độ ăn hợp lư, cụ thể là.
- Bất buộc ăn sáng trước khi đi làm: điều này nói dễ mà làm khó.
Do nhiều lư do nhiều bạn trẻ trước khi đi làm mang cái bụng đói hoặc điểm tâm
bằng vài chén rượu với mấy củ lạc. Điều này rất nguy hiểm. T́nh trạng giảm đường
huyết trong khi lao động có thể gây ra những tai nạn nhất là khi làm việc trên
cao.
Khoảng cách giữa các bữa ăn không quá 4-5 giờ. Nhiều khi do chế độ làm ca kíp
thông tầm, người ta có tổ chức các bữa ăn bồi dưỡng giữa giờ. Cần chú ư đây là
những bữa ăn tuy nhẹ nhưng phải cân đối chứ không phải chỉ giải quyết nhu cầu về
năng lượng. Tránh cho bữa ăn giữa giờ quá nặng gây buồn ngủ.
- Nên phân cân đối thức ăn ra các bữa sáng, trưa, tối và đảm bảo sự cân đối
trong từng bừa ăn.
4. Rượu và lao động.
Rượu khi vào cơ thể cũng cung cấp năng lượng, nhưng thực tế con người lao
động không thể lấy năng lượng từ rượu.
Đối với người lao động th́ uống rượu là điều không được phép khi bước vào
ngày làm việc. Nhiều tai nạn đáng tiếc, thậm chí chết người xảy ra do rượu. Càng
không thể tha thứ đối với người lái xe. V́ uống rượu mà gây tai nạn xe cộ gây
nên thảm họa cho nhiều người, nhiều gia đ́nh. Không những thế người nghiện rượu
có ảnh hưởng tới tâm thần, tới chứng thiếu vitamin B1 do rượu và dẫn tới xơ gan.
II. DINH DƯỡNG Và LAO ĐộNG TRí óC
Như trên đă nói phân chia lao động ra thể lực và trí óc là tương đối, tuy vậy
cách phân chia này cũng giúp chúng ta đi vào một số đặc thù cần chú ư của mỗi
đối tượng lao động.
1 Về tiêu hao năng lượng.
NÓI CHUNG Ở những người lao động
trí óc đều tiêu hao năng lượng không nhiều. Khi ngủ và nằm nghỉ ngơi tiêu hao
nàng lượng là 65-75 Kcalo/giờ. Tuy vậy người thầy giáo giảng bài không c̣n là
lao động nhẹ nứa mà là lao động trung b́nh, tiêu hao 140-270 Kcalo/giờ.
Như trên đă nói cân bằng năng lượng là nguyên tấc của dinh dưỡng hợp LƯ. Ở
NGƯỜI lao động trí óc và tĩnh tại t́nh trạng thiếu hoạt động và thừa cân nặng là
yếu tố nguy cơ. Hệ thống cơ chiếm 70% tổng số khối lượng cơ thể và t́nh trạng
của nó ảnh hưởng đến tất cả hệ thống chính của cơ thể. Triết gia cổ đại Aristote
nói: Không có ǵ làm suy yếu và hủy hoại cơ thể bầng t́nh trạng, không lao động
kéo dài. Thày thuốc danh tiếng thế kỷ 18 Tissot khẳng định "Lao động có thể thay
thế các loại thuốc nhưng không có thứ thuốc nào có thể thay thế cho lao động".
Thiếu lao động có ảnh hưởng đặc biệt không tốt với t́nh trạng và chức phận hệ
thống tim mạch. Các chỉ số về chất lượng hoạt động chức phận chân tay, các tai
biến như nhồi máu cơ tim và các rối loạn tim mạch khác ở MỨC ĐỘ NHẤT ĐỊNH đều
liên quan đến t́nh trạng thiếu lao động chân tay kéo dài.
Khẩu phần năng lượng cao cùng với lối sống thiếu hoạt động không tránh khỏi
dẫn tới tăng cân nặng và béo ph́. Các thống kê cho thấy những người THỪA CẦN
THIẾT V̀ BỆNH TIM MẠCH 2 CẦN NHIỀU HƠN Ở
những người b́nh thường. Bệnh tăng HUYẾT ÁP CŨNG
NHIỀU GẤP 2 Ở NGƯỜI BÉO.
ở tuổi đă trung niên lao động trí óc tĩnh
tại, nếp sống ít hoạt động nên tiêu hao năng lượng ít, dẫn đến sự tự tích lũy
mỡ, tăng cân nặng, béo ph́ đang là vấn đề lo ngại của các nước phát triển và xă
hội văn minh khi nền công nghiệp hóa và tự động hóa cao.
2. Về nhu cầu các chất dinh dưỡng.
Nguyên tắc chính của dinh đường hợp lư đối với người lao động trí óc và tính
tại là duy tŕ năng lượng của khẩu phần ngang với năng lượng tiêu hao. Theo quan
điểm hiện nay, tính cân đối là cơ sở của dinh dưỡng hợp lư.
- Trong khẩu phần nên hạn chế gluxit và lipit. Nhiều tài liệu khẳng định ảnh
hưởng của lượng lipit cao (thừa) đối với h́nh thành vữa xơ động mạch SỚM Ở
NHỮNG người ít lao động chân tay. Các đặc tính trên thuộc về các lipit nguồn gốc
động vật trong đó các axit béo no chiếm ưu thế. Gluxit đặc biệt các loại có phân
tử thấp là thành phần thứ hai nên hạn chế ở NGƯỜI LAO ĐỘNG TĨNH tại. Nên ít sử
dụng các loại bột có tỷ lệ xay xát cao, đường và các thực phẩm giàu đường. Các
loại tinh bột của các hạt ngũ cốc toàn phần cũng như tinh bột của khoai có tác
dụng tốt v́ chúng ít chuyển thành lipit trong cơ thể.
- Người ta cho rằng chế độ ăn cho người lao động trí óc có đủ protein nhất là
protein động vật v́ chúng có nhiều các axit min cần thiết là tryptofan, lizin và
metionin. Các loại thịt nạc nhất là thịt gà, cá nên khuyến khích.
- Cung cấp đầy đủ các vitamin và chất khoáng cho những người lao động trí óc
là rất quan trọng. Cần chú ư rằng các chế độ ăn hạn chế năng lượng để chống béo
cần đảm bảo đủ vitamin và chất khoáng. Đó LÀ ĐIỀU CẦN CHÚ Ư V̀ thường thường khi
ăn bớt cơm (năng lượng) thường kèm theo ăn ít hơn các LOẠI THỨC ĂN (NHẤT LÀ RAU
QUẢ). ĐÓ
là điều không hợp lư.
Một chế độ ăn không đơn điệu, gồm nhiều thức ăn tự nhiên khác nhau để chúng
tự bổ sung cho nhau một cách tự nhiên là phương pháp đơn giản để thực hiện ăn
cân đối hợp lư. Ta thường nói lương thực là gạo, ngô, khoai, bột ḿ. Thật ra
trong bột ḿ có nhiều protein hơn gạo, trong ngô vàng có nhiều caroten, trong
khoai lang và khoai tây có nhiều vitamin
C LÀ NHỮNG CHẤT DINH DƯỠNG Ở GẠO không có. Như vậy chế độ
ăn trộn, ăn thay thế là chế độ ăn hợp lư. Gần đây người ta nói nhiều tới các
chất chống oxy hóa và sự h́nh thành các gốc tự do. Mọi người đều biết quá tŕnh
oxy hóa - khử là quá tŕnh quan trọng và phổ biến trong mọi cơ thể sống trước
hết để giải phóng năng LƯỢNG. CƠ THỂ cần oxy cho các hoạt động chuyển hóa b́nh
thường, nhưng oxy cũng có thể có các phản ứng bất lợi đối với nhiều thành phân
khác của tế bào. Một số phản ứng sinh học đó sản sinh ra các gốc tự do. Một
trong các thành phần của TẾ BÀO BỊ TẤN CÔNG TRƯỚC HẾT ĐÓ LÀ CÁC MÀNG TẾ BÀO, Ở đó có nhiều axit béo chưa no. Quá tŕnh oxy hóa với sự có mặt của các
gốc tự do sẽ tạo nên các peroxit của lipit, điều đó được coi là một phản ứng
thoái hóa sinh học
May thay cơ thể cũng có nhiều cơ chế để chống lại các quá tŕnh oxy hóa trong
đó vai tṛ của các chất dinh dưỡng rất quan trọng.
Trong các protein, người ta nhấc tới các protein có nhiều các axit min chứa
LƯU HUỲNH NHƯ METHIONIN ĐĂ NÓI Ở
trên.
Bên cạnh việc cung cấp năng lượng, các gluxit cũng cần thiết cho hoạt động
b́nh thường nhiều hệ thống men. Người ta nhận thấy sự có mặt của glucoza cần
thiết cho tác dụng của selen chống lại tổn thương oxy hóa màng tế bào và
hemoglobin. . .
Trong các lipit, các lipit cd nhiều axit béo chưa no như ở MÀNG TẾ BÀO LÀ ĐỐI TƯỢNG TẤN CÔNG CỦA CÁC GỐC TỰ DO. BỔ
sung các axit béo chưa no trong chế độ ăn là cần thiết để
phục hồi chức năng của màng tế bào bị tốn thương. Tuy vậy, tăng các axit béo
chưa no cần đi kèm theo tăng các chất chống oxy hóa, chủ yếu là vitamin E.
Một số chất khoáng như selen, kẽm (Zn) và vitamin cũng có vai tṛ chống oxy
hóa. Đứng đầu bảng trong các vitamim là vitamin E. Vai tṛ vitamin
A ĐỐI VỚI SỰ BẢO VỆ tính toàn vẹn các niêm mạc biếu mô đă
được biết từ lâu. Gần đây người ta 'nói nhiều đến tác dụng chống oxy hóa của
b
-CAROTEN. NHIỀU NGHIÊN CỨU DỊCH TỄ HỌC CHO THẤY Ở
các quần thể dân cư ăn nhiều thực phẩm giàu caroten
hoặc có hàm lượng b -caroten trong máu cao th́ tỷ lệ
ung thư phổi và suy mạch vành thấp hơn. Tác dụng bảo vệ của caroten đối với bệnh
đục nhân mắt do tuổi già cung đang được nghiên CỨU, VITAMIN
C CŨNG tham gia vào quá tŕnh đó nhưng một lượng quá cao vitamin C tỏ ra có tác
DỤNG NGƯỢC LẠI.
Vai tṛ các chất chống oxy hóa và các gốc tự do đang là
mũi nhọn của dinh dưỡng học cơ sở hiện nay. Người ta cho rằng địa bàn tác đụng
của các hoạt động này chính là ở các ty lạp thể và
việc hiểu biết các cơ chế này sẽ đóng góp to lớn vào dự pḥng các bệnh thoái hóa
và bệnh tuổi già trong tương lai.
III. CáC KHUYếN CáO Về DINH dưỡng Ở MỘT SỐ NƯỚC ĐĂ PHÁT TRIỂN
ở nhiều nước đă phát triển các vấn đề về dinh dưỡng
rất được quan tâm, họ coi đó là một trong các chiến lược chính về CHĂM SÓC SỨC
KHỎE.
- ở Hoa Kỳ: cứ 5 năm một lần, Viện Hàn Lâm Khoa học
Quốc gia lại xem xét và thông qua các bảng nhu cầu dinh dưỡng cho thời gian
trước mắt và các khuyến cáo cụ thể về dinh dưỡng hợp lư.
Dưới đây là các khuyến cáo về: "Dinh dưỡng và sức khỏe: 'Pḥng ngừa nguy cơ
các bệnh mạn tính': do Viện Hàm Lâm Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ thông qua năm 1989
cho nhân dân họ:
1. Nên giảm lượng lipit xuống dưới 30% tổng số năng lượng của khẩu phần. Giảm
lượng axit béo no xuống dưới 10% tổng số năng lượng và lượng cholesterol xuống
dưới 300mg. Lượng chất béo và cholesterol có thể giảm xuống nhờ thay thế cá,
thịt gia cầm (không có da) thịt nạc, sữa gầy cho các loại thịt mỡ và sữa toàn
phần ; nhờ ăn thêm nhiều rau, trái cây, lương thực và đậu, hạn chế dầu mỡ, ḷng
đỏ trứng, các món rán và thức ăn nhiều mỡ khác.
2. Hàng ngày nên ăn các món trộn rau quả, đặc biệt là rau xanh, có màu vàng
da cam và các quả chua. Đồng thời nên ăn kèm bánh ḿ, lương thực và đậu
3. LƯỢNG PROTEIN NÊN DUY TR̀ Ở mức vừa phải, không dưới 0,8g/kg trọng lượng cơ thể và không quá
1,6g/kg
4. Chế độ ăn uống cân đối phải đi kèm với hoạt động thể lực để duy tŕ cân
nặng "nên có"
5. Không khuyến khích uống rượu. Những ai đă uống rượu th́ khuyên nên giới
hạn rượu uống hàng ngày không quá 30g. Phụ nữ có thai không được uống rượu.
6. Giới hạn lượng muối hàng ngày không quá 6g. Giới hạn sử dụng muối trong
nấu nướng và tránh các thức ăn bảo quản bằng muối
7. Duy tŕ mức canxi thích hợp.
8. Không ăn vượt quá nhu cầu hàng ngày.
9. Nên có lượng Fluo thích hợp nhất là trong thời gian học cấp và cấp 2.
- Ở NHẬT Bản: Hiện nay Nhật Bản đang là
một trong các nước có tuổi thọ trung b́nh cao nhất thế giới. Chính phủ Nhật rất
quan tâm đến dinh dưỡng trong đường lối chăm sóc sức khỏe.
Dưới đây là các khuyến nghị về dinh dưỡng hợp lư cho người Nhật do Viện dinh
dưỡng Nhật Bản công bố năm 1985:
1. ĂN nhiều loại thức ăn khác nhau để có một khẩu phần cân đối:
- Hàng ngày nên ăn trên 30 loại thức ăn khác nhau:
- Bữa ăn dù chính hay phụ cũng nên cân đối.
2. Điều chỉnh mức ăn vào phù hợp với hoạt động thể lực:
- Không ăn quá thừa năng lượng để tránh béo ph́.
- Điều chỉnh hoạt động thể lực phù hợp với năng lượng ăn vào
3. Nên nhớ rằng cả số lượng và chất lượng của chất điều quan trọng:
- Không ăn quá nhiều mỡ.
- Dùng dầu thực vật hơn là mỡ động vật.
4. Không ăn quá nhiều muối:
- Không ăn quá 10 gam mỗi ngày.
- Tránh các phương pháp chế biến cần dùng nhiều muối, tạo vị ngon bằng các
phương pháp khác dùng ít muối
5. Coi trọng bừa ăn và cách chế biến truyền thống ở GIA Đ̀NH:
- Bữa ăn chung cả gia đ́nh là những giây phút ấm cúng trong ngày.
- CẦN CỐ GẮNG CHẾ BIẾN MÓN ĂN Ở
nhà, duy tŕ khẩu vị gia đ́nh.
Những khuyến cáo nói trên là cho ngườí Hoa Kỳ và người Nhật Bản nhưng những
lời khuyên của họ đáng để cho chúng ta suy nghĩ nhất là khi đất nước đang ở
trong thời kỳ chuyển tiếp kể cả chuyển tiếp về cách ăn uống.
Mục lục
|