DINH DƯỠNG VÀ AN TOÀN THỰC PHẨM
CHƯƠNG V: ĂN UỐNG HỢP LƯ CỦA NGƯỜI CAO TUỔI
Con người là một hệ thống, một cỗ máy tiêu thụ năng lượng
để hoạt động, cỗ máy này cũng bị hao ṃn trong quá tŕnh sử dụng.
ăn uống qua thức ăn, cung cấp năng lượng cho các
hoạt động của cơ thể và tu bổ những hao ṃn đảm bảo cho các chức năng của cơ thể
được hoạt động b́nh thường. Đối với người cao tuổi, ăn uống càng quan trọng v́
qua nhiều năm hoạt động cỗ máy cũng đă có nhiều đổi thay.
I. NHU CẦU DINH DƯỠNG Ở
NGƯỜI CAO TUỔI
1. Trước hết nói về nhu cầu năng lượng.
Người cao tuổi hoạt động ít hơn, khối cơ (bắp thịt) của người cao tuổi cũng
giảm đi khoảng 1/3 so với tuổi trẻ. Với một người 70 tuổi, nhu cầu năng lượng
giảm đi khoảng 30% so với tuổi. Do đó người cao tuổi phải ăn ít hơn lúc c̣n trẻ.
Nếu thấy vẫn ăn ngon miệng mà ăn quá thừa th́ sẽ mắc bệnh BÉO TRỆ. CÓ THỂ THAM
KHẢO công thức Lorentz sau đây để tính trọng lượng nên có:
Trong đó: - P là trọng lượng nên có tính bằng kg
- h là chiều cao tính bằng cm
Ví dụ: Với nam cao 160 cm trọng lượng nên có là:
Với nữ cũng cao 160cm trọng lượng nên có là:
Cũng có thể dùng một công thức đơn giản hơn tính chung cho cả nam nữ.
P : 50 + 0,75 ( h – 150)
VỚI NGƯỜI CAO 160CM TRỌNG LƯỢNG NÊN CÓ:
P = 50 + 0,75 ( 160 - 150 ) = 57,5
kg. .
Đơn giản hơn nữa lấy chiều cao tính bằng cm trừ đi 100 rồi lấy 9/10 của trọng
lượng đó. Ví dụ một người cao 160 cm. Trừ đi 100 c̣n 60 lấy 9/10 của 60 là 54
kg.
Vài cách tính nói trên cho thấy khái niệm trọng lượng nên có không có ư nghĩa
tuyệt đối mà chi có giá trị hướng dẫn, tham khảo, nghĩa là một người cao 160 cm
có trọng lượng lúc trẻ khoảng 55 kg là tất. Và tất nhiên không nên vượt quá mức
60 kg (10/10). Nếu lên đến 66 kg (11/10) là béo.
Gần đây tổ chức khuyên dùng chỉ số khối cơ thể (Body mass index) để đánh giá
t́nh trạng dinh dưỡng:
CÂN NẶNG(KG)
CHỈ SỐ BMI CAO hơn giới hạn trên 25 là béo
và thấp hơn 18,5 là gấy.
Ví dụ: Một người nặng 57,5 kg cao 1m60
Người đó dù là nam hay nữ đều vào loại b́nh thường không gầy, không béo.
- NẾU NGƯỜI ĐÓ NẶNG 66 KG TH̀ BMI
sẽ bằng:
Th́ nam hay nữ đều thuộc loại béo.
Đối với người nhiều tuổi, trọng lượng nên có tất nhiên phải thấp hơn trọng
lượng đă tính, và trọng lượng đó nên coi là trọng lượng tối đa cho phép.
Ví dụ: Một người cao lm70. Từ nhiều năm vẫn điều chỉnh vấn đề ăn uống và giữ
cân ở mức nên có 63 kg (70kg x 9/10). Nhưng đến lứa tuổi trên 70 mức đó quá cao
v́ khối cơ teo đi và thay vào đó là khối mỡ, bụng to ra do đó cân nặng vẫn giữ
nguyên cho nên cần rút bớt xuống khoảng 60kg, bớt đi 3kg mỡ THỪA.
Ở LỨA TUỔI TRUNG NIÊN mỗi bữa 3-4 bát cơm nay chỉ ăn mỗi bữa một bát cũng vẫn
giữ được cân.
2. Về nhu cầu chất ngọt (gluxit).
Tuổi càng cao càng giảm mức chịu đựng đối với chất ngọt: 70% ở NHÓM TUỔI
60-74 VÀ 85% Ở LỨA TUỔI TRÊN 75 BỊ GIẢM MỨC CHỊU đựng đối với chất ngọt. Đây là
tiền đề dễ bị mắc bệnh đái tháo ĐƯỜNG. Ở TRÊN 60 TUỔI TỶ lệ người bị đái tháo
đường cao hơn 8-10 lần so với dân cư chung. Chúng ta đều biết khi ăn nhiều
đường, uống nhiều nước ngọt, ăn nhiều kẹo
bánh ngọt, đường hấp thu vào máu rất nhanh tạo ra một đỉnh cao, một thời điểm
đường huyết cao buộc tụy tạng phải hoạt động đột xuất tiết ra insulin để điều
chỉnh đường huyết. Nếu sự kiện này diễn ra nhiều lần trong ngày và diễn ra liên
tục trong thời gian dài, đặc biệt ở NGƯỜI CAO TUỔI TH̀ SẼ BẮT TỤY TẠNG hoạt động
quá tải gây ra bệnh đái đường. Cho nên đối với người cao tuổi phải hạn chế ăn
đường, hạn chế uống nhiều nước ngọt và ăn nhiều bánh kẹo. Chất ngọt là chất cung
cấp năng lượng cho cơ thể. Nên dùng chất ngọt (gluxit) từ nguồn chất bột: cơm,
bánh ḿ... V́ các chất ngọt này được tiêu hóa, hấp thu, dự trữ ở cơ thể
và chỉ giải phóng ra từ từ đưa vào máu theo nhu cầu hoạt động của cơ thể cho nên
không làm tăng đường huyết đột ngột lên đỉnh cao.
3. Về chuyển hóa chất béo (lipit).
CƠ THỂ THỪA CHẤT NGỌT (GLUXIT) SẼ CHUYỂN THÀNH MỠ DỰ TRỮ. Ở người cao tuổi hoạt động của men lipaza phân giải chất mỡ giảm dần
theo tuổi và cơ thể có xu hướng thừa mỡ trong máu, cholesterol trong máu tăng,
dễ có rối loạn trong thành phần cấu tạo các nhóm mỡ.
ĐÓ LÀ TIỀN ĐỀ DẪN ĐẾN vừa xơ động mạch (VXĐM) rồi
ảnh hưởng đến cơ tim với các cơn đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, phồng động mạch
vành, ảnh hưởng đến thiếu máu cục BỘ Ở NĂO GÂY MẤT NGỦ, RỨC đầu, ù tai, chóng
mặt, hay quên, giảm khả năng tư duy, tập trung tư tường. Nặng hơn có thể bị xuất
huyết năo, liệt nửa người, hôn mê .
Cần bảo vệ hệ thần kinh trung ương trong pḥng và chữa VXĐM. Hạn chế căng
thẳng, luyện tập thân thể đều, sinh hoạt điều độ đảm bảo giấc ngủ. Hạn chế cao
trong khẩu phần ăn, giảm mỡ động vật, tăng ăn dầu thực vật, hạn chế muối, bớt
đường, ăn nhiều rau quả.
4. VỀ CHUYỂN HÓA PROTEIN.
ở người cao tuổi tiêu hóa hấp thu protein
kém, khả năng tổng hợp của cơ thể cũng giảm do đó dễ xảy ra trạng thái thiếu
protein cho nên cần chú ư đảm bảo chất protein cho người cao tuổi.
Nói tới protein th́ người ta nghĩ ngay đến thịt. Chúng ta đều biết tiêu hóa
thịt thường đi đôi với một quá tŕnh phân giải tạo ra các chất có SUNFUA Ở
ĐẠI tràng và là những độc tố ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe. Mùi hôi nặng nề
khi trung và đại tiện phản ảnh một phần hậu quả của hiện tượng có nhiều chất
chứa sunfua khi ăn nhiều thịt. Đặc biệt nếu lại bị táo bón, các chất độc này
không được thải ra ngoài nhanh lại bị hấp thu vào cơ thể gây ra một loại nhiễm
độc trường diễn rất có hại cho sức khỏe. Cho nên đối với người nhiều tuổi nên
hạn chế ăn thịt, nhất là thịt mỡ mà nên thay vào ăn cá v́ cá có nhiều đạm quí,
dễ tiêu, ít sinh khí sunfua hơn thịt lại có nhiều axit béo không no rất cần đối
với người có tuổi, có cholesterol cao. .
Người có tuổi nên ăn nhiều chất đạm nguồn thực vật v́ ít tạo sunfua. Ngoài ra
các thức ăn nguồn gốc thực vật c̣n có xơ trong thức ăn có tác dụng giữ
cholesterol trong ống tiêu hóa và sau đó thải ra theo phân. Đă có nhiều nghiên
cứu cho thấy sợi xơ trong thức ăn làm hạ cholesterol tự do trong máu.
Tóm lại người cô tuổi nên ăn giảm thịt nhất là thịt mỡ, ăn thêm nhiều bữa cá
trong tuần và tăng cường sử dụng đậu phụ, sữa đậu nành, sữa chua từ đậu nành,
các loại đậu đỗ và lạc. Các nguồn đạm này ít sinh sunfua, có nhiều chất xơ giúp
thải ra theo phân chất cholesterol.
5. Chuyển hóa nước, vitamin và chất khoáng.
Người có tuổi thường giảm nhạy cảm đối với cảm giác khát nước, v́ thế cần có
ư thức đề pḥng thiếu nước cho người có tuổi, có chế độ cho người có tuổi uống
nước vào những bữa nhất định, ví dụ uống trà buổi sáng, uống nước vào buổi trưa,
bớt uống nước vào buổi tối. Trong mùa hè cần tăng cường lần cho uống nước.
Đối với người có tuổi, cần chú ư tới hoạt động của các gốc tự do trong cơ.
Khái niệm về gốc tự do (FR) được đề xướng lần đầu tiên năm 1954 do nhà khao học
Hoa Kỳ D.Harman trong luận thuyết về cơ chế tích tuổi (Free Radical Theory of
Aging). Gốc tự do là những phân tử hoặc những mảnh vỡ của phân tử có một điện tử
lẻ đôi ở QUĨ ĐẠO V̉NG NGOÀI. DO SỰ CÓ MẶT CỦA điện tử này, các gốc tự do có
một thuộc tính đặc biệt quan trọng là có khả năng oxy hóa rất cao. Nếu v́ một lư
do nào đó, thường là do đời sống quá căng thắng, gặp quá nhiều stress th́ số
lượng các gốc tự do tăng cao bất thường vượt khỏi sự khống chế b́nh thường của
hàng rào bảo vệ của các chất AO, thống oxy hóa (antioxydant) th́ chúng sẽ khởi
động những phản ứng dây chuyền oxy hóa các chất nền (substratum) đáng chú ư là
các lipit, thành phần cấu tạo của tất cả các màng tế bào. Các gốc tự do và sản
phẩm hoạt động của chúng, các dẫn chất peroxyt hóa sau khi gây tổn thương màng
tế bào sẽ dẫn đến nhiều tổn thương khác như biến đồi cấu trúc các protẹịn, ức
chế hoạt động các men, biến đổi cấu trúc và thuộc tính ác nội tiết tố.
Tổn thương do các gốc tự do gậy ra là cơ sở bệnh sinh học của những TRẠNG
THÁI BỆNH THƯỜNG GẶP Ở những người có tuổi như VXĐM, bệnh đái tháo đường, bệnh nha chu,
bệnh ung thư...
Theo D.Harman, tích tuổi - già hóa - là hậu quả tổng hợp của tất cả các tổn
thương xuất hiện và phát triển trong các tế bào tổ chức cơ quan, hệ THỐNG CỦA CƠ
THỂ DO CÁC GỐC TỰ DO GÂY RA.
II CáC BIệN PHáP CầN THIếT Để TĂNG TUổI THọ .
Đúng như nhà khoa học Pháp đă nói "Nghệ thuật tăng tuổi thọ đó là
nghệ thuật tránh làm giảm tuổi thọ ". Cần giảm sản sinh ra các gốc TỰ DO
FR VÀ TĂNG AO TRONG CƠ THỂ. CẦN TRÁNH LÀM GIẢM tuổi thọ bằng cách:
1. CÓ
MỘT TÂM HỒN THANH thản, phấn đấu để được luồn sống trong niềm vui.
- Niềm vui kích thích tăng cường sức sống của cơ thể, giúp duy tŕ thăng bằng
của hệ thần kinh và là một vũ khí cưỡng lại mọi căng thắng, mọi stress của cuộc
sống hàng ngày. Người ta chỉ đến sống trên trái đất chắc chắn có một lần, chưa
biết bao giờ được trở lại lần thứ hai, cuộc sống lại quá ngắn ngủi. Vậy tại sao
lại dùng thời gian quư báu của ḿnh để đi gây căng thẳng với người khác mà không
dùng nó vào bao nhiêu công việc có ích mà con người đang rất thiếu
thời gian để thực hiện: lao động, học tập, sinh hoạt
nghệ thuật, t́nh bạn, đời sống gia đ́nh êm ấm...
Tuy nhiên phải công nhận cuộc sống hiện tại rất căng thẳng có thể làm suy yếu
cơ thể gây ra nhiều bệnh. Cho nện phải tạo điều kiện cho thần kinh bớt căng
thẳng, lấy lại được sự b́nh thản, thoải mái, dành thời gian thư giăn hàng ngày.
Thư giăn thực hiện dựa trên cơ sở giải quyết mối quan hệ giữa hoạt động thần
kinh và trương lực cơ bấp,. bằng cách tập trung ư nghĩ vào cách' giăn mềm cơ bắp
nhờ đó mà làm dịu căng thắng thần kinh, kết hợp với thư giăn tập thở sâu thở tối
đa, thở nhịp nhàng.
2. ĂN UỐNG hợp lư
- TĂNG CƯỜNG CÁC CHẤT AO
chống oxy hóa để chóng lại các gốc tự do (FR).
CÁC CHẤT AO CÓ NHIỀU Ở rau quả bao gồm:
Vitamin E, vitamin C, beta-caroten, vitamin P, vitamin nhóm B.
- Các chất màu trong thảo mộc, trong rau, quả.
- Tanin của trà.
- Các chất khoáng K, Mg, Zn, Cu, Se, Fe.
- Một số axit hữu cơ.
Uống nước chè, chè xanh, hoa ḥe, ăn nhiều rau, đặc biệt là rau lá xanh (rau
muống, rau ngót, rau giền, rau đay, rau mùng tơi) ăn nhiều gia vị (hành, hẹ,
húng, diếp cá, lá lốt, rau thơm, rau mùi, rau răm...), ăn củ gia vị (tỏi, gừng,
riềng, nghệ) và ăn nhiều quả chín sẽ cung cấp cho cơ thể nhiều vitamin VÀ CÁC
CHẤT KHOÁNG LÀM CHO ĐỘI NGŨ BẢO VỆ AO
trở thành hùng hậu để chống lại các phần tử gây rối
là các gốc tự do (FR).
3. Năng vận động.
Ngoài yếu tố ăn, c̣n một cách chống oxy hóa cơ thể rất có hiệu quả là vận
động. Từ xưa Aristot đă nhận xét: "Không có ǵ làm suy yếu và phá hủy cơ thể
con người bằng việc không vận động kéo dài".
Vận động chân tay không phải chỉ cấn thiết cho cơ bắp, xương, khớp mà c̣n tác
dụng đến toàn cơ thể. Cơ thể được rèn luyện đều đặn sẽ hoạt động hài ḥa, cho ta
cảm giác đễ chịu, vui phấn khởi, yêu đởi, trí óc sáng suất và lao động có năng
suất.
Cần dành th́ giờ tập luyện đều đặn hàng ngàn theo một chế độ và phương pháp
tự chọn phù hợp với sức khỏe và tuổi tác của từng người, phương pháp tập luyện
thích hợp nhất với người cao tuổi là đi bộ và tập thở, thở sâu.
Tóm lại muốn chống lại hoạt động phá hoại của các gốc tự do gây già hóa nhanh
cần thực hiện 3 biện pháp chính là:
- CHỐNG LẠI SỰ PHÁT TRIỂN GỐC TỰ DO Ở trong cơ thể bằng cách uống thanh thản, bớt căng thắng, sống thân
ái trong niềm vui với đồng nghiệp, bạn bè, gia đ́nh.
- CÓ CHẾ ĐỘ ĂN GIÀU CHẤT BẢO VỆ AO để chống lại, và hạn chế hoạt động của các gốc tự do (FR).
- Năng vận động để cơ thể người cao tuổi được khỏe mạnh, vui vẻ và không bị
tŕ trệ trầm cảm.
III. NHữNG LờI KHUY? Cụ THể Về ĂN UốNG VớI NGƯờI CAO TUổI
Người có tuổi cần ăn bớt số lượng.
Cơm là nguồn cung cấp nhiệt lượng chủ yếu của nhân dân ta. Nếu c̣n trẻ ăn
b́nh thường mỗi bữa 3 bát cơm. Khi lao động nặng ăn tới 4,5 bát. Th́ nay nên ăn
rút xuống 2 bát rồi 1 bát. Theo dơi cân để đi.êu chỉnh mức ăn, người
nhiều tuổi nên lấy mức tối đa không được vượt quá 9/10 của chiều cao tính bằng
cm trừ đi 100. Ví dụ người cao 160cm không được vượt quá:
2. Về mặt chất lượng bữa ăn.
- Cần đảm bảo chất đạm, chủ yếu bằng chất đạm nguồn thực vật: đậu phụ, sữa
dậu nành, sữa chua, tương, các loại đậu và cá. Giảm ăn thịt nhất là thịt mỡ.
- ĂN DẦU HOẶC LẠC, VỪNG, giảm ăn mỡ.
- Hạn chế ăn mặn, giảm án đường, giảm nước giải khát ngọt, bánh kẹo ngọt.
- Tăng cường ăn nhiều rau đặc biệt là rau lá xanh, ăn nhiều rau gia vị, tuần
nào cũng nên có món ăn sử dựng các loại củ gia vị: tỏi, gừng,. riềng, nghệ. Chú
ư giá đỗ.
3. Cách ăn.
- TRÁNH ĂN QUÁ NO ĐẶC BIỆT KHI CÓ BỆNH Ở
hệ tim mạch, cần chú ư những ngày lễ, tết
thường ăn quá mức b́nh thường, và vui quá chén.
- Làm thức ăn mềm và chú ư tới món canh. Cần quan tâm đến t́nh h́nh răng
miệng, sức nhài, nuốt của người nhiều tuổi khi chế biến thức ăn (già được bát
canh) v́ tuyến nước bọt và hàm răng của người nhiều tuổi hoạt động kém, vấn đề
nuốt thức ăn có khó khăn.
- Phải theo dơi và kiểm tra vấn đề ăn và uống của người nhiều tuổi.
Nhiều cụ ăn rồi lại nói là chưa ăn. Một số cụ ăn nhưng không thấy cảm giác no
nên ăn quá mức, ăn thừa. Một số cụ lại không thấy cảm giác khát nên cơ thể bị
thiếu nước.
- Cần xây dựng một tập tục mới bữa ăn có thực đơn tức là có kế hoạch cho bữa
ăn chung và bữa ăn của người nhiều tuổi trong đó:
+ CÓ MÓN salát chủ yếu để cung cấp rau
nguồn v́tamin, chất khoáng, chất xơ cho cơ thể. Trong món salát cô kèm theo dầu
ăn, vừng lạc để chế biến ra các món nộm hoặc các món salát hỗn hợp nhiều loại
rau, củ, quả khác.
+ CÓ MÓN chủ lực chủ yếu cung cấp chất đạm và chất béo bao gồm thịt các
loại cá và thủy sản, đậu phụ và đậu các loại. Các món ăn này có thể làm riêng
từng loại như thịt kho, thít gà luộc, cá rán, trứng tráng, đậu phụ kho, rán,
hoặc hỗn hợp như giả ba ba có thị đậu phụ nhồi thịt, trứng đúc thịt, hoặc chế
biến sẵn để ăn dần như tương, muối vừng, lạc. Không nên bày vẽ ra quá nhiều món.
Khi có khách cũng chỉ nên làm 2 món chủ lực này.
+ CÓ MÓN ăn cung cấp năng lượng chủ yếu là chất bột, món chính là cơm.
Cơm trắng hoặc cơm trộn ngô, trộn đậu xanh, đậu đen, trộn khoai có vùng c̣n trộn
cám. Cơm cám rất bổ, và rất ngon, rất béo. Ngoài cơm có thể ăn bánh ḿ (ở THÀNH
PHỐ), ĂN NGÔ, MÈN MÉN Ở
vùng đồng bào thiểu số chuyên trồng ngô hoặc ăn khoai, đặc
biệt là khoai sọ chấm muối vừng rất phù hợp với người nhiều tuổi
+ CÓ MÓN canh cung cấp nước và các
chất dinh dưỡng bổ sung cho cơ thể. Từ nước rau, canh suông, canh rau muống,
tương gừng, đến canh cá, canh gị, canh thịt. Những món canh chua rất được ưa
thích trong mùa hè và những món canh dưa với lạc, với cá, với thịt rất được ưa
thích trong mùa đông.
+ CÓ ĐỒ uống, nhớ ăn cần đi đôi với uống, uống trước, trong và sau bữa ăn
đối với người nhiều tuổi, tránh dùng rượu. Chỉ cần nước trắng, nước chè và các
món canh trong bữa ăn.
- Chú ư đám bảo vệ sinh trong quá tŕnh nấu nướng. Họa từ mồm ra và bệnh từ
mồm vào. Thức ăn không được trở thành nguồn gây bệnh.
4. Sử dụng hợp lư một số thực phẩm dùng cho người cao tuổi.
- Gạo: tốt nhất là ăn gạo lức, gạo toàn phận nhưng nên đă bóc cám riêng ra
cho gạo mềm dễ nhai. Khi nấu trộn với cám đă bóc ra, cơm cám này ăn với muối
vừng rất béo và rất ngon. Đây là cách ăn thông minh của nhân dân vùng Giao Thủy
Nam Hà.
Gạo lức la loại gạo đặc biệt dành cho các cụ có điều kiện, có nhiều thời giờ,
c̣n b́nh thường chỉ cần chọn gạo dẻo, không mốc và không xát quá trắng.
- Khoai củ các loại: người cao tuổi nên ăn rút bớt cơm và thay vào đó nên ăn
nhiều loại khoai. Khoai có khối lượng lớn gây cảm giác no nhưng cho ít năng
lượng không gây béo mà lại có nhiều chất xơ giúp chống táo bón, giúp thải
cholesterol thừa và đề pḥng ung thư đại tràng.
- Đậu tương (đậu nành): đậu các loại có giá trị dinh dưỡng rất cao, giàu chất
đạm. Riêng đậu tương c̣n có thêm nhiều axit béo không no rất QUƯ, CẦN KHUYẾN
KHÍCH TRỒNG Ở
mọi vùng và chế biến đậu tương ra nhiều loại thức ăn.
+ Làm tương: tương cà gia bản, tương không phải chỉ là một loại nước chấm
ngon (tương Bần), tương Cự Đà. Tương c̣n được coi như MỘT MÓN ĂN CHẾ BIẾN
SẴN Ở
nhiều vùng quê. Trong bữa ăn, múc ra một bát tương to, mọi
người rưới tương án với cơm.
+ Đậu phụ, cháo.
+ Sữa đậu nành, sữa chua từ đậu nành: sử dụng nhiều loại đậu, đậu xanh,
đậu đỏ, đậu đen, đậu trắng vào chế biến món ăn và ngâm giá đỗ.
- Lạc, vừng: lạc, vừng đều giàu chất đạm, chất béo, nhiều axit béo không no.
Nên chế biến sẵn một ́ọ nhỏ vừng, lạc để ăn dần bổ sung vào bữa ăn trong ṿng 1
tuần.
- Rau: bữa nào cũng cần có món rau, đặc biệt là rau xanh c̣ chứa nhiều
b-proten kể cả trong
các bữa tiệc cũng không nền chỉ nghĩ đến. thịt cá, gị, chả, mà quên rau.
- Quả chín: rất quư nhất là với người nhiều tuổi. Nguồn cung cấp nhiều
vitamin và nhất khoáng, nhiều chất chống oxy hóa. Cần gây thành tập tục có quả
tráng miệng sau bữa ăn.
Rau quả giúp con người tăng sức khỏe, đẩy lùi bệnh tật.
"Hàng ngày quả chí rau xanh
Cũng như thày thuốc đứng canh bên ḿnh! "
- Thịt, cá: mỗi tuần lễ tối thiểu có 3 bữa cá, thịt tùy theo khả năng. B́nh
quân đầu người nhiều tuổi 1 kg/tháng.
- Trứng: là món ăn có giá trị dinh dưỡng cao nhưng không phải cứ ăn nhiều
trứng là tốt. Đối với người khỏe mạnh mỗi tuần cũng không nên ăn QUÁ 6 QUẢ V̀ Ở
TRỨNG CÓ nhiều cholesterol. Đối với người nhiều tuổi vừa trải qua những bệnh làm
cơ thể gầy sút nhiều nếu không có phản chỉ định của thày thuốc, có thể ăn 3 quả
trứng một tuần.
Không nên cho những người có triệu chứng của bệnh thiếu máu tim, rối loạn
tuần hoàn năo ăn trứng. Tốt nhất khi ăn trứng nên kèm theo ăn sữa v́ trọng sữa
có nhiều lexitin có thể trung ḥa tác dụng cửa cholesterol.
- Sữa: dân ta chưa có tập tục dùng sữa. Nhưng v́ sữa rất bổ nên cần có kế
hoạch phát triển ngành nuôi ḅ sữa, nuôi trâu sữa, nuôi dê lấy sữa và sản xuất
sữa đậu nành. Đối với người nhiều tuổi ăn sữa rất bổ và dễ tiêu. Đặc biệt sữa
chua vừa bổ vừa có tác dụng điều ḥa hoạt động của bộ máy tiêu hóa. Nếu có điều
kiện mỗi ngày các cụ nên ăn một cốc sữa chua.
- Mật ong: mật ong có rất nhiều tác dụng đối với cơ thể. Trong điều trị học
mật ong được sử dụng có kết quả tốt trong các bệnh viêm, loét dạ dày, tá tràng,
các trạng thái suy yếu gan, thần kinh. Nhưng người nhiều tuổi có đặc điểm giảm
mức chịu đựng đối với chất ngọt v́ thế người nhiều tuổi không được ăn quá 20g
đường một ngày trong đó có tính cá mật ong.
- Mắm: mỗi địa phương Việt Nam đều có những loại mắm riêng được dân rất ưa
thích. Đối với người nhiều tuổi tuy mắm rất ngon nhưng không nên ăn thường xuyên
và mỗi lần ăn cũng nên dùng ít thối v́. lượng muối NaCl trong mắm rất cao, không
thích hợp với cơ thể người có tuổi.
- Muối: Đă co nhiều công tŕnh nghiên cứu và các cuộc điều tra dịch tễ học
dinh dưỡng ở thực địa về mối liên quan không thể chối căi giữa mức tiêu thủ muối
ăn với mức độ thường gặp bệnh huyết áp cao. Theo Freiss (1976) th́:
+ Dưới 250mg muối/người/ngày: không
gặp huyết áp cao trong nhóm dân cư.
+ Từ 250mmg đến 1600mg muối/người/ngày: rất ít gặp huyết áp cao.
+ Từ 1,6 đến 8g muối/người/ngày: số người cớ huyết áp cao trong nhóm dân
cư lên đến 15%.
+ Với mức tiêu thụ muối trên 8g muối/người/ngày: số người huyết áp cao có
thể lên tới 30% tổng số người dân trong nhóm dân cư.
CÓ HAI thực tế thường được các tác giả
nghiên cứu về muối ăn và huyết áp nhắc ĐẾN: + NHỮNG NGƯỜI BỘ LẠC YANAMAMO
Ở
vùng biên giới Venezuela và Brasil sống bằng nghề trồng
chuối để ăn quả thỉnh thoảng ăn thêm sản phẩm săn bắn và đánh cá, họ không ăn
muối, không có huyết áp cao và huyết áp cũng không tăng theo tuổi.
+ Người Nhật Bản những năm 1950 tiêu thụ trung b́nh 20g muối/ngày.
Cá biệt có người ăn tới 50g. Trong thời gian này, Nhật Bản là nước có nhiều
người mắc bệnh huyết áp cao nhất (50% những người từ 50 tuổi trở lên) có nhiều
người bị tai biến mạch năo với tỷ lệ tử vong cao nhất (25% tổng số tử vong).
Trước t́nh h́nh này Nhật Bản đă tiến hành giáo dục, vận động quần chúng giảm
lượng muối tiêu thụ hàng ngày xuống dưới 10 gam và thấp hơn nữa. Năm 1981, tại
hội nghị chuyên đề về tai biến mạch năo (TBMN) Ở CHÂU Á
VÀ Thái B́nh Dương lần thứ nhất đại diện Nhật thông báo:
số người bị chảy MÁU NĂO GIẢM 40%, TẮC MẠCH NĂO GIẢM 24% SỐ NGƯỜI CHẾT V̀
TBMN giảm. Trong 52 nước tham dự hội nghị, Nhật từ hàng thứ 1
xuống hàng thứ 16 về tử vong do TBMN.
- Rượu: đối với người trẻ, khỏe mạnh, cơ thể có thể chuyển hóa rượu tạo ra
năng lượng, 1g rượu nguyên chất cho 7 cao với điều kiện rượu uống vào trong 24
giờ không quá 100g và uống rải ra nhiều lần trong ngày.
Khác với thức ăn thường, rượu được hấp thu rất nhanh. Đến đoạn đầu của ruột
non 80% lượng rượu uống vào đă vào đến máu và từ đó đến tất CẢ TỔ CHỨC, ,THIỀU
NHẤT VÀ LÂU NHẤT Ở NĂO VÀ Ở
gan.
Người có tuổi thường có nhiều nhược điểm về sức khỏe, huyết áp cao, xơ mỡ
động mạch, thiếu máu tim, rối loạn tuần hoàn năo, chức năng thận, gan bị suy yếu
thường gặp bệnh đái tháo đường. Những nhược điểm này là tiền đề của nhiều
tai biến như tai biến mạch năo, nhồi máu cơ tim.
Cho nên, đối với người có tuổi, rượu, kể cả rượu thuốc là một đồ uống nên
tránh sử dụng đều đặn hàng ngày. Đối với người có tuổi khỏe mạnh, rượu nhẹ loại
lên men như rượu vang, bia dùng trong những ngày vui có thể cho phép dùng với
liều nhỏ.
Con người tạo ra thức ăn, nhưng cũng có thể nói thức ăn tạo ra con người.
"Hăy nói cho tôi biết anh ăn như thế nào, tôi sẽ cho anh biết anh là ai". Khi
được hết cụ thể về t́nh h́nh ăn uống của một người, ta có thể đoán biết những
điều khá cơ bản về người ấy (sức khỏe, nề nếp sinh hoạt, tính t́nh, khả năng lao
động, triển vọng sức khỏe, bệnh tật, sống lâu hay chết sớm).
Những điểm cơ bản về dinh dưỡng cho người cao tuổi, không chỉ là những điều
cần thiết áp dụng cho lứa tuổi này, mà c̣n là những điều bổ ích cho đối tượng
trưởng thành cần lưu ư để có một tuổi già khỏe mạnh, hữu ích và hạnh phúc.
Mục lục
|