DINH DƯỠNG VÀ AN TOÀN THỰC PHẨM
CHƯƠNG VIII: CÁC BỆNH THIẾU DINH DƯỠNGCÓ Ư
NGHĨA SỨC KHOẺ CỘNG ĐỒNG
Những kết quả nghiên cứu
của khoa học dinh dưỡng đă chỉ ra trong thức ăn có chứa các thành phần dinh
dưỡng cần thiết đối với cơ thể, đó là các chất protein, lipit, các vitamin, các
chất khoáng và nước: Sự thiếu một trong các chất này có thể gây ra nhiều bệnh
tật thậm chí chết người ví dụ như bệnh scobut do thiếu VITAMIN
C đă lấy đi sinh mạng 100 trong số 160 thủy thủ theo
Vasco de Gam t́m đường
sang phương Đông, Viên da PELLAGRA HAY GẶP Ở các vùng ăn
toàn ngô do thiếu vitamin PP, bệnh tê phù do thiếu vitamin B1...
Người ta gọi đó là các
bệnh thiếu dinh dưỡng đặc hiệu, nghĩa là nguyên nhân chủ yếu là do thiếu một
thành phần dinh dưỡng nào đó. Nhờ áp dụng kiến thức dinh dưỡng. vào chăm sóc sức
khỏe; nhiều loại bệnh này được đẩy lui về quá khứ. Tuy vậy Ở
các nước nghèo vẫn c̣n nổi trội lên các vấn đề sức khỏe do thiếu dinh dưỡng, các
bệnh thiếu dinh dưỡng quan trọng nhất hiện nay là thiếu PROTEIN NĂNG LƯỢNG,
THIẾU VITAMIN A
và bệnh khô mắt, thiếu máu dinh dưỡng, thiếu iot và BỆNH
BƯỚU CỔ.
THIẾU DINH DƯỠNG
PROTEIN-NĂNG
LƯỢNG
I. ĐẠI CƯƠNG VỀ THIẾU DINH DƯỠNG
PROTEIN NĂNG LƯỢNG
.
Thiếu dinh dưỡng Protein
năng LƯỢNG LÀ LOẠI THIẾU DINH DƯỠNG QUAN TRỌNG NHẤT Ở trẻ
em, với biểu hiện lâm sàng bằng t́nh trạng chậm lớn và hay đi kèm với các bệnh
nhiễm khuẩn .
Thiếu dinh dưỡng Protein
năng LƯỢNG Ở
trẻ em thường xảy ra do:
- Chế độ ăn thiếu về số lượng và chất lượng .
- T́nh trạng nhiễm khuẩn, đặc biệt là các bệnh đường
ruột, sởi, và viêm cấp đường hô hấp. Các bệnh này gây tăng nhu cầu, giảm ngon
miệng và hấp thu.
Mối quan hệ giữa suy đinh dưỡng- nhiễm khuẩn thể hiện
qua ṿng sau đây:
T́nh trạng phổ biến của suy dinh
dưỡng có liên quan chặt chẽ với t́nh trạng kinh tế xă hội, sự nghèo đói, sự
kém hiểu biết v́ t́nh trạng văn hóa thấp, mù chữ, thiếu thức ăn, vệ sinh kém,
đồng thời với sự lưu hành bệnh nhiễm khuẩn.
Ở CỘNG đồng các nguyên nhân thường đan xen nhau
rất phức tạp cần lưu ư tới những trẻ em sinh ra
ở CÁC GIA
Đ̀NH NGHÈO TÚNG, Ở
những bà mẹ đẻ quá dày, cân nặng khi trẻ sinh ra
thấp, những đứa trẻ sinh đôi, những bà mẹ sau sinh mất sữa. ĐÓ
là những trẻ có nguy cơ cao chế độ ăn không đủ cả lượng và chất
dẫn tới bị suy dinh dưỡng.
Suy dinh dưỡng thể c̣m
Marasmus là thể thiếu dinh dường nặng hay gặp nhất. Đó
là hậu quả của chế độ ăn thiếu cả nhiệt lượng lẫn Protein do cai sữa sớm hoặc ăn
bổ sung không hợp lư. T́nh trạng vệ sinh kém gây ỉa chầy, đứa trẻ ăn càng kém và
ṿng luẩn quẩn bệnh lư bắt đầu. Kwashiorkor ít gặp hơn Marasmus thường là do chế
độ ăn quá nghèo về protein mà gluxit tạm đủ (chế độ ăn sam chủ yếu dựa vào khoai
sắn). Ngoài ra c̣n có thể phối hợp Marasmus - Kwashiorkor.
Đặc điểm
các thể suy dinh dưỡng
Thể loại lâm sàng |
Marasmus |
Kwashiorkor |
Các biểu hiện thường gặp |
| Cơ
teo đét |
Rơ
ràng |
Có
thể không rơ do phù |
| Phù |
Không có |
Có
ở các chi dưới , mặt |
| Cân
nặng/ chiều cao |
Rất
thấp |
Thấp, có thể không rơ do phù |
|
Biến đổi tâm lư |
Đôi
khi lặng lẽ mệt mỏi |
Hay
quấy khóc, mệt mỏi |
| |
Các biểu hiện có thể gặp |
|
Ngon miệng |
Khá |
Kém |
| ỉa
chảy |
Thường gặp |
Thường gặp |
|
Biến đổi ở da |
ít
gặp |
Thường có viêm da, bong da |
|
Biến đổi ở tóc |
ít
gặp |
Tóc
mỏng thưa, dễ nhổ |
| Gan
to |
Không |
Đôi
khi do tích luỹ mỡ |
| Hoá
sinh (albumin huyết thanh) |
B́nh thường hoặc hơi thấp |
Thấp (dưới 3g/100ml) |
Chúng ta cần nhớ rằng suy dinh dưỡng bắt đầu từ biểu
hiện chậm lớn cho đến các thể nặng là Marasmus và Kwashiorkor.
Trong hoạt động chăm sóc sức khỏe ban đầu, việc nhận
biết các thể nhẹ và vừa có ư nghĩa quan trọng đặc biệt.
Trong điều kiện thực địa, người ta chủ yếu dựa vào các
chỉ tiêu nhân trắc (cân nặng theo tuổi, chiều cao theo tuổi, cân nặng theo chiều
cao, ṿng cánh tay) để phân loại t́nh trạng suy dinh dưỡng. Khi đo ṿng cánh tay
cần sờ nắn để đánh giá t́nh trạng lớp mỡ dưới da.
Ở cộng đồng, cách phân loại thông dụng
nhất trước đây do Gomez F. đưa ra từ năm 1956 dựa vào cân nặng theo tuổi quy ra
phần trăm của cân nặng chuẩn. Thiếu dinh dưỡng độ 1 tương ứng 75%-90% của cân
nặng chuẩn. Thiếu dinh dưỡng độ 2 tương ứng 60%-75% của cân nặng chuẩn. Thiếu
dinh dưỡng độ 2 tương ứng 60% của cân nặng chuẩn. Cách phân loại của Gomez F.
đơn giản nhưng không phân biệt được thiếu dinh dưỡng mới xẩy ra hay đă lâu.
Để khắc phục nhược điểm đó, Wate*ow J.C. đề nghị cách
phân loại như sau: Thiếu dinh dưỡng thể gầy c̣m (tức là hiện đang thiếu dinh
đường) biểu hiện bằng cân nặng theo chiều cao thấp so với chuẩn, thiếu dinh
dưỡng thể c̣i cọc (tức là thiếu dinh dưỡng trường diễn) dựa vào chiều cao theo
tuổi thấp so với chuẩn.
Bảng phân loại theo Waterlow
| |
Cân nặng theo chiều cao
(80 % hay -2SD) |
Trên |
Dưới |
Chiều cao theo tuổi
(90% hay-2SD ) |
Trên |
B́nh thường |
Thiếu dinh dưỡng gày c̣m |
Dưới |
Thiếu dinh dưỡng c̣i cọc |
Thiếu dinh dưỡng nặng kéo dài |
Hiện nay OMS .
KHUYẾN NGHỊ COI LÀ THIẾU DINH dưỡng khi cân nặng theo tuổi dưới 2 độ lệch chuẩn
(-2 SD) so với quần thể THAM KHẢO NCHS (NATIONAL CENTER FOR HEÀTH ST'ATISTICS)
CỦA MỸ. VIỆC SỬ DỤNG QUẦN THỂ NCHS được đề ra sau khi quan
sát thấy trẻ em dưới 5 tuổi nếu được nuôi dưỡng tốt th́ các đường phát triển
tương tự nhau. So với TRỊ SỐ TƯƠNG ỨNG Ở QUẦN thể tham khảo, người ta
chia ra các mức độ sau: từ -2 đến -3 độ lệch chuẩn: thiếu dinh dưỡng vừa (độ 1),
từ -3 đến -4 độ lệch chuẩn: thiếu dinh dưỡng nằng (độ 2), dưới -4 độ lệch chuẩn:
thiếu dinh dưỡng rất nặng (độ 3). Ở CÁC THỂ NẶNG, người ta thường dùng thang
Welcome để phán biệt giữa Marasmus và Kwashiorkor.
Thang phân loại Welcome
|
Cân nặng (%) so với chuẩn |
Phù |
| Có |
Không |
|
60-80 |
Kwashiorkor |
Thiếu dinh dưỡng |
|
Dưới 60 |
Marasmus - Kwashiorkor |
Marasmus |
Theo tính toán, 1 SD tương đương 10% như vậy 60% tương
đương mức -4SD của cân nặng chuẩn.
Pḥng chống suy dinh dưỡng trẻ em đ̣i hỏi sự lồng ghép
của nhiều hoạt động trong đó có các biện pháp lớn sau đây:
1. Theo dơi biểu đồ phát triển trẻ em.
2. Phục hồi mất nước theo đường uống khi trẻ ỉa chảy.
3. Nuôi con bằng sữa mẹ.
4. Tiêm chủng theo lịch pḥng các bệnh
sởi, uốn ván, ho gà, bạch hầu, bại liệt và lao. .
5. Kế hoạch hóa gia đ́nh.
6.
Giáo dục dinh dưỡng.
7. Xây dựng hệ sinh thái
VAC tạo thêm nguồn thức ăn bổ sung.
Dưới đây chúng tôi xin giới thiệu sâu hơn về
các biện pháp dinh dưỡng.
II. CáC BIệN PHáP PḤNG CHốNG SUY DiNH DƯỡNG
1 Thực hiện nuôi con bằng sữa mẹ.
Trong những năm gần đây, ít có
vấn đề được quan tâm nhiều trong dinh dưỡng trẻ em bằng vấn đề nuôi con bằng sữa
mẹ. Không ít các cuộc hội nghị hội thảo quốc tế và trong nước DÀNH RIÊNG CHO
CHUYÊN ĐỀ NÀY. TỔ chức quỹ nhi
đồng quốc tế (UNICEF) đă coi nuôi con bằng sữa mẹ là một trong 4 biện pháp quan
trọng nhất (theo dơi biểu đồ phát triển, phục hồi mất nước do ỉa chảy
bằng orêzôn, nuôi con bằng sữa mẹ và
tiêm chủng theo âm lịch tuổi) để bảo vệ sức khỏe trẻ em. Điều đó có nhiều lí do:
a) Trước hết sữa mẹ là thức ăn hoàn chỉnh nhất, thích
hợp nhất đối với đứa trẻ. Các chất dinh dưỡng có trong sữa mẹ đều được cơ thể
hấp thu và đồng hóa dễ dàng.
b) Sữa mẹ là dịch thể sinh học tự nhiên chứa nhiều yếu
tố quan trọng bảo vệ cơ thể đứa trẻ mà không một thức ăn nào có thể thay thế
được, đó là:
- Các Globulin miễn dịch, chủ yếu là IGA có tác dụng
bảo vệ cơ thể chống các bệnh đường ruột và một số bệnh do virus.
- Lizozim là một loại len có nhiều hơn hẳn trong sữa mẹ
so với sữa ḅ. Lizozim phá hủy một số vi khuẩn gây bệnh và pḥng ngừa một số
bệnhvirus.
- Lactoferrin là một protein kết hợp với sắt có tác
dụng ức chế một số loại vi khuẩn gây bệnh cần suất để phát triển.
- Các bạch cầu: trong 2 tuần lễ đầu, trong sữa mẹ có
tới 4000 tế bào bạch cầu/ml. Các bạch cầu này có khả năng tiết IGA, lixozim,
lactoferrin, interferon.
- Yếu tố bifidus cần cho sự phát triển loại vi khuẩn
lactobacilusbifidus, ḱm hăm các vi khuẩn gây bệnh và kí sinh trùng.
c) Nuôi con bằng sữa mẹ là điều kiện để đứa con có
nhiều thời gian gần gũi với mẹ, mẹ gần gũi với con. Chính sự gần gũi tự nhiên đó
là yếu tố tâm lư quan trọng giúp cho sự phát triển hài ḥa của đứa trẻ. Mặt
khác, chỉ có người mẹ qua sự quan sát tinh tế của ḿnh những khi cho con bú sẽ
phát hiện được sớm nhất, đúng nhất những thay đổi của con b́nh thường hay bệnh
lư .
Nuôi con bằng sữa mẹ cần chú ư những điểm sau đây:
- Cho con bú càng sớm càng tốt, bú ngay trong nửa giờ
đầu tiên. Phản xạ bú của đứa trẻ kích thích tiết sữa, mặt khác trong sữa non là
loại sữa tuần đầu tiên có nhiều chất dinh dưỡng quan trọng, nhất là chất béo và
có nhiều loại IGA một yếu tố miễn dịch quan trọng.
- Cho con bú kéo dài, ít nhất đến 12 tháng. Mặc dù số
lượng sữa ngày càng ít đi nhưng chất lượng sữa vần tốt, do đó cho bú kéo dài là
cách nâng cao chất lượng bữa ăn của trẻ một cách tự nhiên.
- Cho bú không cứng nhắc theo giờ giấc, mà theo nhu cầu
của trẻ . Giá trị toàn diện không thể ǵ thay thế được của sữa mẹ cần
được mọi người và xă hội thấm nhuần để mọi người mẹ có quyết tâm và được tạo
điều kiện để nuôi con bằng bầu sữa của ḿnh.
2. Cho ăn bổ sung hợp
lư.
Trong 4 tháng đầu, sữa mẹ là thức
ăn hoàn chỉnh nhất đối với đứa trẻ . Nhưng từ tháng thứ. 5 trở đi, số lượng sữa
mẹ không đáp ứng đủ nhu cầu của đứa trẻ đang lớn nhanh. Do đó các bà mẹ cho con
ăn sam (ăn bố sung), thông thường ở nước
ta là các loại bột, nhất là bột gạo.
Mấy điểm sau đây cần lưu ư: .
a) Thức ăn bổ sung cần có đăm độ năng lượng thích hợp:
Trong sữa mẹ, 50% năng lượng là do chất béo, trong bột
gạo chỉ có 1-3% năng lượng do chất béo. Chế độ ăn có đậm độ năng lượng thấp th́
phải ăn nhiều hơn mới đáp ứng được nhu cầu, điều đó không dễ thực hiện v́ dạ dày
Sữa mẹ giữ vị trí trung
tâm. CÁC LOẠI THỨC ĂN Ở 4 Ô
xung quanh bổ sung cho sữa mẹ tùy theo nhu cầu, mỗi
? CÓ vị tŕ riêng
của nó. Trong thức ăn bổ sung đơn giản nhất thường gồm 2 thành phần, bột ngũ cốc
phối hợp với bột đậu đỗ. Tuy nhiên thức ăn bổ sung hoàn chỉnh cần đại diện 4 ô
trong h́nh vuông thức ăn tỷ lệ thích hợp.
d) Theo dơi biểu đồ phát triển:
Khác với bệnh nhiễm khuẩn, SUY
DINH DƯỠNG Ở
trẻ em tiến triển theo một con đường quanh
co khúc khuỷu, đến khi nhận thấy thường là giai đoạn muộn Do đó, vấn đề quan
trọng là nhận biết sớm để có biện pháp can thiệp kịp thời.
Trong những năm gần đây, người ta nói nhiều đến giá trị
của việc sử dụng biểu đồ phát triển, coi đó là biện pháp quan trọng để pḥng
chống suy dinh dưỡng. Cân nặng định ḱ đứa trẻ đều hàng tháng, đứa trẻ tăng cân,
đó là biểu hiện b́nh thường, cân đứng yên là biểu hiện đe dọa, nếu xuống cân là
biểu hiện nguy hiểm. .
Theo dơi và sử dụng biểu đồ phát triển là công việc tự
giác có ư thức của bà mẹ chứ không phải là hoạt động chuyên môn kỹ thuật riêng
của cơ quan y tế Trong pḥng chống suy dinh dưỡng, vai tṛ người mẹ là trung
tâm. Người mẹ nào cũng tràn đầy t́nh yêu và trách nhiệm đối với con ḿnh, biểu
đồ phát triển giúp họ đánh giá đúng đắn t́nh h́nh sức khỏe của con họ.
Chính v́ vậy, sứ dụng biểu đồ phát triển đă được tổ
chức quỹ nhi đồng quốc tế (UNICEF) coi là một trong các biện pháp chủ yếu trong
chăm sóc sức khỏe trẻ em.
Tóm lại, sử dụng biểu đồ phát
triển, nuôi con bằng sữa mẹ và thức ăn bổ sung hợp lí, giáo dục kiến thức dinh
dưỡng cho người mẹ đó là các biện pháp quan trọng trong pḥng chống suy dinh dưỡng trẻ em. Cùng với việc
XÂY DỰNG HỆ SINH THÁI VAC (VƯỜN, ao, chuồng) để tạo thêm nguồn thực phẩm
tại chỗ nhằm làm phong phú bữa ăn trước hết cho trẻ em và người mẹ, chúng sẽ mở
ra triển vọng tốt cho công TÁC PH̉NG CHỐNG SUY DINH DƯỜNG Ở TRẺ EM NƯỚC TA.
THIẾU MÁU DINH DƯỠNG VỚI SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG.
I ĐịNH NGHĩA
Có
NHIỀU NGUYÊN NHÂN CÓ THỂ gây ra thiếu máu trong đó đứng về phương diện sức khỏe
cộng đồng 3 loại sau đây quan trọng hơn cả:
a) Thiếu máu dinh dưỡng.
b) Thiếu máu liên quan với nhiễm khuẩn và kí sinh trùng
mạn.
c) Thiếu máu liên quan đến các tật di truyền của các
phân tử hemoglobin (kể cả bệnh Talatxêmi).
Ba loại này không tách biệt mà nhiều khi lồng vào nhau
ví dụ một số nhiễm kí sinh trùng như giun móc chẳng hạn làm tăng nhu cầu các yếu
tố tạo máu và thúc đẩy phát sinh thiếu máu dinh dưỡng. Hơn nữa, trong một quần
thể có tỉ lệ thiếu máu dinh dưỡng cao, đồng thời cũng có thể có nhiều người bị
thiếu máu do bệnh của hemoglobin.
Thiếu máu dinh dưỡng không những là loại thiếu máu phổ
biến nhất mà đồng thời cũng là loại dễ được chế ngự nhờ các biện pháp can thiệp
y tế.
Thiếu máu do thiếu sắt là loại thiếu máu dinh dưỡng hay
gặp nhất, có thể kết hợp với thiếu axít folic nhất là trong thời ḱ có thai. Các
loại thiếu máu dinh dưỡng khác như do thiếu vitamin B12, piridoxin và đồng thời
ít gặp hơn.
Các đối tượng thường bị đe dọa thiếu máu dinh dưỡng là
trẻ em học sinh và nhất là phụ nữ có thai.
Theo Tổ
CHỨC Y tế thế giới, thiếu máu dinh dưỡng là t́nh trạng
bệnh lí xảy ra khi hàm lượng hemoglobin trong máu xuống thấp hơn b́nh thường do
thiếu một hay nhiều chất dinh dường cần thiết cho quá tŕnh tạo máu bất kể lí do
ǵ.
Hàm lượng hemoglobin b́nh thường
thay đổi theo tuổi, giới, t́nh trạng sinh lí, độ cao so với mặt biển và ít khác
NHAU THEO CHỦNG TỘC. TỔ CHỨC Y tế thế giới đă đề nghị coi là
THIẾU MÁU DO THIẾU SẮT KHI HÀM LƯỢNG HEMOGLOBIN Ở dưới các
ngưỡng sau đây:
Bảng 1:
Ngưỡng KB CHỈ ĐỊNH THIẾU MÁU THEO
TỒ CHỨC Y
tế thế giới
|
Nhóm tuổi |
Ngưỡng hemogolobin (g/100ml) |
| Trẻ
em từ 6 tháng- 6 tuổi |
11 |
| Trẻ
em từ 6 tuổi- 14 tuổi |
12 |
| Nam
trưởng thành |
13 |
| Nữ
trưởng thành |
12 |
| Nữ
có thai |
11 |
Có
NHỮNG NGƯỜI CÓ LƯỢNG HEMOGLOBIN THẤP hơn các giới hạn trên không bị thiếu máu
(nghĩa là cho thêm các chất dinh dưỡng tạo máu vào mà lượng Hb vẫn không tăng ),
tuy vậy trong một quần dân cư. tỉ lệ số người có lượng Hb thấp hơn các "ngưỡng"
trên càng CAO TH̀ VẤN ĐỀ THIẾU MÁU CÀNG LỚN.
II. Ư NGHĨA SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG
1. Tỉ lệ mắc bệnh.
Dựa theo các giới hạn "NGƯỠNG" ĐỀ
NGHỊ Ở trên và số liệu nhiều cuộc điều tra, Tổ CHỨC Y tế thế giới ước tính có 30% dán số thế giới bị
thiếu máu.
Bảng 2:
Tỉ lệ phần trăm thiếu máu trên thế giới (1980)
|
Vùng |
Trẻ em
0-4 tuổi |
Trẻ em
5-12 tuổi |
Người trưởng thành nam |
Phụ nữ 15-49 |
Có thai |
Chung |
|
Các nước phát triển Các nước đang phát triển |
12
51 |
7
46 |
3
26 |
14
59 |
11
47 |
|
Chung |
43 |
37 |
48 |
51 |
35 |
Thiếu máu hay gặp ở các nước đang
phát triển (36%) so với các nước phát triển (8%). Tỉ lệ thiếu máu cao nhất ở
châu Phi, nam á rồi đến châu Mỹ La Tinh
c̣n các vùng khác thấp hơn. Thiếu máu hay gặp nhất ở
PHỤ nữ có thai 51%) rồi dện trẻ em (43%) học sinh
(37%) c̣n ở nam giới trưởng thành thấp lơn cả (18%) .
Người ta ước tính toàn thế giới có khoảng 700
- 800 triệu người bị thiếu náu. Cần chú ư thêm rằng thiếu máu chỉ là giai đoạn
cuối của một quá tŕnh hiếu sắt tương đối dài vời nhiều ảnh hường bất lợi đổi
vời sức khỏe và số giời bị thiếu sắt nhưng chưa bộc lộ thiếu máu c̣n cao hơn
nhiều số người bị hiếu máu thực sự.
Các điều tra dịch tể học ở
NƯỚC ta bước đầu cho thấy: tỉ lệ thiếu máu ở phụ nữ có thai ở HÀ NỘI LÀ 41% (3
THÁNG CUỐI LÀ 49%) C̉N Ở một số vùng nông thôn là 49% (3 tháng cuối là 59%) .
Tỉ lệ THIẾU MÁU Ở trẻ em trước tuổi đi học vào khoảng 40-50%.
Như vậy thiếu máu dinh dưỡng đang là vấn đề
sức khỏe cộng đồng quan trọng của bà mẹ và trẻ em nước ta .
2. Hậu quả sức khỏe.
Biểu hiện thường gặp của thiếu
máu là da xanh, niêm mác nhợt nhạt, các biểu hiện thiếu oxi ở
các mô. Về phương diện sức khỏe cộng đồng các hậu quả sau đây đáng chú ư:
A) ảnh
hưởng tới khả năng lao động:
Thiếu máu do bất kỳ nguyên
nhân nào cũng gây nên t́nh trạng thiếu oxi các mô, đặc biệt ở
một số cơ quan như tim, năo. Thiếu máu ảnh hưởng tới các hoạt động cần tiêu hao
năng lượng. Nghiên
cứu
ở nhiều nơi cho thấy năng suất lao động
của những người thiếu máu thấp hơn hẳn những người b́nh thường. Người ta c̣n
nhận thấy t́nh trạng thiếu sắt (chưa bộc lộ thiếu máu) cũng làm giảm khả năng
lao động.
B)
ảnh
hưởng tới năng lực trí tuệ:
Các biểu hiện mệt mỏi,
nhất ngủ kém chú ư, kém tập trùng, dễ bị kích động hay gặp ở
NHỮNG người thiếu máu. Kết quả học tập của học sinh bị thiếu náu thấp hơn hẳn so
với lô chứng và đă được khắc phục sau khi các em được )ổ sung viên sắt.
C) ảnh hưởng tới thai
sản:
Từ lâu người ta đă biết thiếu máu
tăng nguy cơ đẻ non, tăng tỷ lệ mắc bệnh và tử vong của mẹ và con. Nhưng bà mẹ
thiếu máu có nguy cơ đẻ c̣n nhẹ cân và dễ bị chảy máu ở
THỜI KỲ HẬU SẢN. V́ vậy người ta đă coi thiếu máu dinh dưỡng trong thời kỳ thai
nghén là một ĐE DỌA SẢN KHOA.
III. NGUY? NHÂN THIếU MáU DINH DưỡNG
Sự hiểu biết nhu cầu sắt của cơ thể cũng như giá trị
sinh học của Fe trong thức ăn sẽ giúp chúng ta giải thích v́ sao một số đối
tượng như phụ nữ lứa tuổi sinh đẻ lại có nguy cơ cao về thiếu máu dinh dưỡng.
1. Nhu cầu sắt
Lượng sắt trong cơ thể rất ít chỉ
CÓ KHOẢNG 2,5G Ở NỮ VÀ 4,5G Ở NAM. Tuy vậy sắt giữ
vai tṛ sinh học rất quan trọng, chuyển hóa. gần như khép kín, cơ thể rất tiết
kiệm sắt nhưng hằng ngày vẫn bị hao hụt một ít theo CÁC CON ĐƯỜNG KHÁC NHAU .
Ở người trưởng thành lượng sắt mất đi vào khoảng 0,9mg mỗi ngày Ở
NAM (65KG) VÀ 0,8MG Ở NỮ (65KG). Ở phụ nữ độ tuổi sinh đẻ ,lượng sắt mất theo
kinh nguyệt dao động khá nhiều, trung b́nh vào khoảng 0,4- 0,5mg mỗi ngày.
NHƯ VẬY Ở
đối tượng phụ nữ lứa tuổi này tổng lượng sắt mất trung b́nh hằng ngày là 1,25mg
và có khoảng thiếu máu xuất hiện.
Bảng 3: Nhu cầu sắt hấp thu hằng ngày
(mg)
Nhóm tuổi |
Cân nặng (kg) |
Nhu cầu |
| Trẻ
em: |
|
|
|
0.25-1 |
8 |
0.96 |
| 1-2 |
11 |
0.61 |
| 2-6 |
16 |
0.70 |
|
6-12 |
29 |
1.17 |
| Nam
thiếu niên 12-16 |
53 |
1.82 |
| Nữ
thiếu niên 12-16 |
51 |
2.02 |
|
Trưởng thành (nam) |
65 |
|
|
Trưởng thành (nữ) |
|
|
| -
Tuổi hành kinh |
55 |
2.38 |
| -
măn kinh |
55 |
0.96 |
|
-Cho bú |
55 |
1.31 |
Nhu cầu khi có thai tùy t́nh trạng sắt của cơ thể trước
khi có thai.
2. Nguồn sắt trong thức ăn.
Trong thức ăn sắt ở dạng Hem VÀ
KHÔNG Ở
dạng Hem. Hem là thành phần của hemoglobin và Myoglobin,
do đó có trong thịt, cá và máu. Tỉ lệ hấp thu loại sắt này cao 20- 30%. Sắt
KHÔNG Ở DẠNG HEM CÓ CHỦ YẾU Ở
ngũ cốc rau củ và các loại hạt. Tỉ lệ hấp
thu thấp hơn và tùy theo sự có mặt của các chất hỗ trợ hay ức chế trong khẩu
phần ăn. Các chất hỗ trợ hấp thu sắt là vitamin C, các chất giàu protein. Các
chất ức chế hấp thu sắt là các phytat, tanin. Ngoài ra t́nh trạng sát trong cơ
thể cũng ảnh hưởng tới hấp thu sắt.
CÓ
thể chia các loại khẩu phần thường
gặp ra làm 3 loại:
- Khẩu phần có giá trị
sinh học thấp (sắt hấp thu khoáng 5% ): chế độ ăn đơn điệu chủ yếu là ngũ cốc,
củ, c̣n lượng thịt hoặc cá dưới 30g hoặc lượng Vitamin
C dưới 25mg.
- Khẩu phần có giá trị sinh học trung b́nh (hấp thu sắt
khoảng 10%): khẩu phần có từ 30- 90g thịt cá hoặc 25- 75mg Vitamin C.
Nếu một khẩu phần có đủ cá 2 tiêu chuẩn trên hấp thu
sắt sẽ tăng lên rơ rệt, ngược lại nếu có nhiều yếu tố ức chế (chè, cà phê) sẽ
cản trở hấp thu.
Căn cứ vào nhu cầu sắt (bảng 3) và tỉ lệ hấp thu sắt
theo loại khẩuphần ta có thể tính nhu cầu sắt thực tế như sau: cùng một loại
khẩu phần có giá trị sinh học trung b́nh (hấp thu sắt khoảng lo%) th́ nhu cầu
thực tế sắt ở nam trưởng thành là:
1,14 x 10 = 11mg/ngày.
và ở
NỮ Ở DỘ tuổi hành kinh là:
2,38 x 10 : 24 mg/ngày.
IV. CHẨN ĐOÁN THIếU MáU DINH DƯỡNG
1. Trong các điều tra sàng
LỌC Ở
cộng đồng.
Các xét nghiệm thường dùng để chẩn
đoán hemoglobin và hematocrit nhận định về t́nh trạng chức
Y TẾ THẾ GIỚI (BẢNG 1). CÓ THỂ CHIA RA CÁC MỨC 80%, 60-80%
và dưới 60% so với ngưỡng. Trong
dùng các mốc 10g/100ml, 7-10g/100ml và 7g/100ml để phân
loại các mức độ nhẹ vừa và nặng.
2. Các xét nghiệm chẩn đoán thiếu Fe.
Khi điều kiện chỏ phép có thể tiến hành các xét 'nghiệm
sau đây:
- Ferritin huyết thanh: Mức
ferritin trong huyết thanh phản ánh dự trừ Fe trong cơ thể.
Ở NGƯỜI b́nh thường hàm lượng ferritin trong
huyết thanh là 70 mcg/1 ở NAM VÀ 35 MCG/1 Ở NỮ khi dưới 12mcg/1 coi là thiếu dự
trữ sắt.
- Mức băo ḥa transferin: Hầu hết Fe trong huyết thanh
đều gắn với protein là transferin. Khi dự trữ Fe đă cạn mà tiếp tục thiếu Fe th́
tỷ lệ transferin băo ḥa với Fe giảm xuống từ 30% xuống thấp hơn 15%.
- Protoporphyrin trong hồng cầu: Do thiếu sắt,
protoporphyrin không tham gia tạo Hem được nên hàm lượng protoporphyrin tự do
của hồng cầu lên cao hơn 70mcg/1.
Như vậy, trong một quần dân cư có khả năng mắc bệnh
thiếu máu cao, định lượng hemoglobin và hematocrit là xét nghiệm nhạy nhất. Khi
số người mắc bệnh không nhiều lắm, định lượng ferritin có giá trị khêu gợi hơn.
Các xét nghiệm transferin và protoporphyrin có giá trị hỗ trợ.
V. Pḥng chốngthiếu máu dinh dưỡng
Có 4 hướng chính để pḥng chống thiếu máu dinh dưỡng:
1. Bổ sung bằng viên sắt
Ưu điểm của phương pháp này là cải thiện nhanh t́nh
trạng thiếu máu các đối tượng bị đe dọa.
Tuy vậy đ̣i hỏi một hệ thống phân
phối và theo tốt Trong điều kiện nguồn thuốc và cán bộ hạn chế nên dành ưu iên
cho đối tượng có tỷ lệ mắc bệnh cao như người mẹ có thai, trẻ em, học sinh
và lao động một số ngành nghề.
Các tác dụng phụ của viên SẮT LÀ:
KHÓ CHỊU Ở
thượng vị, buồn nôn, nôn, táo bón, ỉa
lỏng. Nên dùng viên sắt sau bừa ăn th́ dễ chịu hơn khi đó. Cần chú ư có thể do
các tác dụng phụ này mà đối tượng ngừng uống. Phần lớn phụ nữ có thai đều thiếu
máu v́ vậy nên tổ chức uống đại trà cho loại đối tượng này. Đối với những người
không thiếu máu, việc uống viên sắt không gây ra tác hại ǵ.
Bảng 4:
Các loại viên sắt thường dùng
|
Loại |
Hợp
chất sắt (mg/viên) |
Sắt
nguyên tố (mg/viên) |
%
Fe |
|
Ferơ sulfat (7 H2O) |
300 |
60 |
20 |
|
Ferơ sulfat (anhydit) |
200 |
74 |
37 |
|
Ferơ sulfat (khô, 1 H2O) |
200 |
60 |
30 |
|
Ferơ gluconat |
300 |
36 |
12 |
|
Ferơ fumarat |
200 |
66 |
33 |
Liều dùng:
- Phụ nữ có thai: nên cho 2 viên có 60 mg sắt nguyên tố
và 250 mcg folat vào kỳ hai của thời kỳ có thai nghĩa là tổng liều khoảng 250
viên. Có thể ban đầu uống liều thấp hơn để mọi người dễ dàng thực hiện.
Tuy vậy vấn đề chính vẫn là giải thích cho các bà mẹ
hiểu rằng họ thiếu Fe trong thời kỳ có thai để tự nguyện uống đủ liều.
- Trẻ em trước tuổi đi học: Nên cho thành đợt ngắn 2-3
tuần mỗi ngày 30 mg Fe nguyên tố dạng viên hoặc dạng nước vài ba lần mỗi năm.
- Học sinh: Thường thường, TỶ LỆ
THIẾU MÁU Ở
lứa tuổi này thấp hơn ở người mẹ có thai
và trẻ em trước tuổi đi học. Nên cho theo đợt ngắn, liều hàng ngày từ 30mg- 60mg
sắt nguyên tố tùy theo tuổi và trọng lượng. Đối với trẻ em dưới 1 tuổi, chủ yếu
dựa vào sắt trong sữa mẹ và cho ăn bổ sung hợp lư (có nhiều Fe và Vitamin C).
2. Cải thiện chế độ ăn.
Trước hết chế độ ăn cần cung cấp
đầy đủ năng lượng và các thực phẩm giàu Fe (thức ăn động vật, dậu đỗ). Đồng thời
cần tăng cường khả năng hấp thu Fe nhờ tăng lượng VITAMIN
C
từ rau quả (ô dinh dưỡng, vườn rau gia đ́nh). Tỷ lệ HẤP
THU CỦA FE KHÔNG Ở
dạng Hem tăng lên thuận chiều với lượng vitamin
C TRONG khẩu phần.
Nên khuyến khích các cách chế biến như nẩy mầm, lên men (giá đỗ, dưa chua) v́ các quá tŕnh này làm tăng lượng
VITAMIN C
và giảm lượng tanin và axit phytic trong
thực phẩm.
3. Giám sát các bệnh nhiễm khuẩn, nhiễm virus và kư
sinh trùng?
Chưa nói đến cải thiện chế độ ăn, chỉ riêng việc định
kỳ tẩy giun, giảm bớt lần mắc các bệnh nhiễm khuẩn đă cải thiện rơ rệt đến t́nh
trạng dinh dưỡng của Fe. Đồng thời cần chú ư chế độ ăn hợp lư trong và sau khi
mắc các bệnh nhiễm khuẩn.
4. Tăng cường Fe cho một số thức ăn:
Đây là một hướng kỹ thuật KHÓ
KHĂN NHƯNG ĐANG ĐƯỢC THĂM D̉ Ở nhiều nước.
Vấn đề đặt ra là đảm bảo hoạt tính sinh học của Fe mà không gây ra mùi vị khó
chịu cho thực phẩm. Các loại thực phẩm được thử nghiệm tăng cường là gạo, muối,
đường, nước mắm, bột cá, chè.
Tóm lại, thiếu mầu dinh
dưỡ ng đang là vấn đề sức khỏe cộng đồng quan trọng ở
BÀ MẸ VÀ TRẺ EM NƯỚC ta. V́ vậy việc pḥng chống bệnh này cần được coi là mục
tiêu quan trọng CỦA NGÀNH TRONG THỜI GIAN TỚI.
THIếU VITAMIN A Và BệNH KHÔ MắT
I. Ư NGHĨA THỜI SỰ CỦA VẤN Đề
Bệnh quáng gà là một biểu
HIỆN SỚM CỦA THIẾU VITAMIN
A
đă được biết đến từ thời cổ Hy lạp- La mă mà
danh y Hypocrat đă dùng gan để chữa bệnh này. Năm 1913, E.V. Mc Colum đă phân
lập được một số yếu tố tan trong dầu cần thiết cho quá tŕnh phát triển và pḥng
bệnh khô mắt nămi932 người ta đă tách ra được các vitamin
A VÀ D.
Mặc dù vậy, cho đến ray
bệnh KHÔ MẮT DO THIẾU VITAMIN
A mà hậu quả bi thảm của nó là mù, vẫn đang là mối đe dọa
đối với trẻ em của nhiều nước trên thế giới. Theo ước tính của Tổ
CHỨC Y TẾ THẾ GIỚI, HÀNG NĂM có trên nửa triệu trẻ em bị mù. Ngoài ra, có tới
6-7 triệu trẻ em bị thiếu VITAMIN A thể nhẹ hoặc vừa làm cho các cháu này dễ bị cảm nhiễm với
các bệnh nhiễm khuẩn
như ỉa chảy và viêm đường hô hấp.
Tại hội nghị quốc tế về mù DINH
DƯỠNG (10/1985) TỔ
chức Y tế thế giới đă phát động chương tŕnh 10 năm hỗ trợ
cho các hoạt động pḥng chống bệnh này. Thiếu Vitamin
A VÀ BỆNH KHÔ MẮT ĐANG LÀ MỘT BỆNH THIẾU DINH DƯỠNG HAY GẶP Ở TRẺ
EM NƯỚC TA ĐẶC BIỆT Ở
các cháu bị suy dinh dưỡng nặng, sau các bệnh ỉa
chảy, nhiễm khuẩn đường hô hấp, sởi. Sự phổ biến của bệnh NÀY THƯỜNG GẶP Ở
các vùng kinh tế và văn hóa chưa phát triển, nguồn thức ăn chay phong phú. Người
ta thấy mối liên quan chặt chẽ của tỷ lệ mắc khô mắt với một tỷ lệ suy dinh
dưỡng cao, cũng như mức độ tổn thương ở MẮT DO THIẾU VITAMIN A NẶNG NỀ CŨNG Ở
NHỮNG TRẺ SUY DINH DƯỜNG NẶNG.
II. BIỂU HIỆN LÂM SàNG Và ĐáNH GIá T́NH
TRạNG THIếU VITAMIN A
1. Biểu hiện lâm sàng của
bệnh khô mắt.
Dấu hiện lâm sàng sớm nhất
của bệnh khô mắt là "quáng gà" đứa trẻ với biểu hiện không nh́n được lúc chập
choạng ṭi, thường đứa trẻ sợ và ngồi một chỗ , đi hay vấp ngă vào thời điểm đó
, cũng có khi người mẹ kể là đứa trẻ đi không đúng chỗ khi sai đi lấy một vật ǵ
đó. Dấu hiệu này khó phát hiện ở những trẻ c̣n nhỏ và không phát hiện được ở
những trẻ chưa biết đi. Những
dấu hiệu nặng hơn với các thể lâm sàng sau:
+
Khô kết mạc: Kết mạc sù ś không
nhẵn, mất sắc bóng láng, có màu vàng nhạt ở KẾT MẠC NHĂN CẦU, CÓ CÁ Ở
kết mạc mi. Khi kết mạc khô không thấm nước, không trong
suốt, có màu đục như sữa do các bọt nhỏ của hiện tượng tăng sừng hóa, các vi kết
mạc không nh́n rơ. Kết mạc có thể dầy lên, nhăn nheo, kết mạc sắc tố hóa có màu
vàng nhạt xám xẩm, hoặc các hạt nhỏ rải rác. Kết mạc CÓ NHỮNG CHẤT CẶN ĐỌNG MÀU
KEM NÂU ĐỌNG Ở
góc mi.
+
Vệt Bitot: Dấu hiệu vệt Bitot được coi là triệu chứng đặc trưng của thiếu
vitamin A, được Bitot mô tả năm 1863. Vệt Bitot là đám tế bào dày lên có màu
trắng xám nổi lên trên bề mặt nhăn cầu, bề mặt phủ một' lớp bọt nhỏ li ti hoặc
lổn nhổn nổi lên trên bề mặt nhăn cầu. H́nh dáng của vệt Bitot thường là h́nh
tam giác đáy quay vào ŕa giác mạc, hoặc có h́nh van, thường có ở cả hai mắt.
+
Khô giác mạc: Với triệu chứng cơ
năng đứa trẻ chói mắt sợ ánh sáng, hay nhắm mắt, nheo mắt. Giác mạc biểu hiện sự
mất bóng sáng, sù ś và khô, nặng hơn th́ có những chấm thẫm nhiễm tế bào viêm,
đục mờ như làn sương phủ, thường hay ở nửa
dưới giác mạc.
+
Loét nhuyễn giác mạc:
Ở THỂ nặng này đứa trẻ rất sợ ánh sáng, mắt luôn
nhắm nhắm nghiền, chảy nước mắt. Tùy mức độ loét sâu nông và diện tích nhỏ th́
như hạt đỗ nhỏ, màu trắng đục do bội nhiễm, nặng có thể diện tích tới gần 1/3
diện tích giác mạc và có trường hợp trên 1/3 hoặc toàn bộ giác mạc. Có KHI có
hiện tượng phồng màng, hoại tử có thể thủng giác mạc, pḥi mống mắt.
+
Sẹo giác mạc: Là hậu quả khô giác mạc, loét giác mạc tùy mức độ trước đó mà sẹo
có thể chỉ như những chấm nhỏ, hoặc như khói phủ, nặng hơn sẹo có thể to, có thể
toàn bộ giác mạc dẫn tới mù.
+
Tổn thương đáy mắt: Dùng đèn soi đáy
mắt chúng ta có thể phát hiện tổn thương đáy mắt do thiếu vitamin A với biểu
hiện đáy mắt điểm vàng có những chấm nhỏ thường Ở
ŕa các mạch máu vơng mạc.
2. Đánh giá t́nh trạng thiếu VITAMIN
A
và bệnh khô mắt.
Đánh giá đúng đắn t́nh
TRẠNG THIẾU VITAMIN A
là yêu cầu đầu tiên để có một chương tŕnh
pḥng chống hữu hiệu, có căn cứ khoa học. Để đạt được mục tiêu này, người ta
thường phối hợp các đánh giá về lâm sàng, .hóa sinh và điều tra khẩu phần.
A. DANH GIÁ LÂM SÀNG:
Ở
những người dinh dưỡng hợp lư, dự trữ vitamin
A TƯƠNG ĐỐI LỚN VÀ đủ cho cơ thể trong một thời gian dài. Các
triệu chứng thiếu vitamin A THƯỜNG GẶP Ở TRẺ EM, ĐẶC BIỆT TỪ 6 THÁNG TUỔI ĐẾN 6
TUỔI V̀ DỰ TRỮ VITAMIN A
của chúng ít hơn và nhu cầu cao hơn.
Mặc dù bệnh thiếu Vitamin
A CÓ BIỂU HIỆN TOÀN THÂN SỮNG CÁC BIỂU HIỆN Ở
mắt vẫn là tiêu biểu và đặc hiệu hơn cả.
Thang phân loại gần đây
nhất (1982) CỦA TỔ CHỨC Y
tế Thế giới (OMS) về các biểu hiện
lâm sàng của bệnh khô mắt như sau:
Thang phân loại các biểu hiện lâm sàng của
bệnh khô mắt:
Khi tỷ lệ mắc bệnh vượt quá 1
TRONG 4 CHỈ TIÊU LÂM SĂNG CÓ THỂ KẾT LUẬN Ở đấy
có vấn đề của bệnh khô mất, ch.ỉ tiêu hóa sinh giúp thêm để khẳng định.
c Điều tra khẩu phần:
Bệnh khô mắt do thiếu vitamin
A THƯỜNG GẶP Ở trẻ em dưới 6 tuổi có nhu cầu cao
và chế độ ăn thường nghèo các thức ăn có nhiều vitamin A. Do đó, hỏi tiền sử ăn
uống hoặc điều tra khẩu phần là việc cần thiết tuy vậy không dễ dàng nhất là đối
với trẻ bé. Trong điều tra ăn uống cần chú ư
t́m hiểu t́nh h́nh nuôi
con bằng sữa mẹ, các nguồn thức ăn giàu vitamin
A VÀ CAROTEN CÓ SẴN Ở ĐỊA PHƯƠNG, CÁC DAO động
theo mùa và các tập quán ăn uống đặc biệt là cách cho trẻ ăn sam, cách cho ăn
khi trẻ bị ỉa chảy hoặc các bệnh nhiễm khuẩn. Dưới đây là một SỐ CHỈ TIÊU GỢI Ư
ĐỂ ĐÁNH GIÁ MỨC VITAMIN A
trong khẩu phấn của trẻ. .
Bảng 5: Chỉ tiêu đánh giá t́nh trạng dinh
dưỡng vitamin A ở trẻ em
|
T́nh trạng |
Vitamin A trong khẩu phần m g hay mcg/ ngày |
Vitamin A ở gan (mg/kg) |
Vitamin A trong khẩu phần m g hay mcg/ ngày |
Biểu hiện lâm sàng |
| Đủ |
Trên 400 |
Trên 20 |
Trên 20 |
Không có |
|
Vùng sáng giới hạn |
200-400 |
10-20 |
10-20 |
Có
thể có biểu hiện chậm lớn, ăn kém ngon, giảm sức đề kháng với nhiễm khuẩn |
|
Giới hạn đe doạ bệnh lư |
Dưới 200 |
Dưới 10 |
Dưới 10 |
Xuất hiện các biểu hiện lâm sàng (quáng gà, khô giác mạc, loét và nhũn giác
mạc) |
II. PḤNG CHốNG BệNH THIếU VITAMIN A
Để đạt các mục tiêu "sức khỏe cho
mọi người năm 2000" pḥng chống bệnh thiếu Vitamin
A ĐANG LÀ VẤN ĐỀ rất đáng chú ư, trước hết đối với trẻ em.
Cần dành ưu tiên thích đáng cho bệnh này v́ nguyên nhân đă biết rơ và nguồn
Caroten và Vitamin A VỐN SẴN CÓ TRONG TỰ NHIÊN. HOẠT ĐỘNG PH̉NG CHỐNG THIẾU
VITAMIN A bao gồm các điểm sau đây:
1 Cải thiện bữa ăn.
Chế độ ăn hàng ngày cần cung cấp ĐỦ
VITAMIN A VÀ CAROTEN. VITAMIN A chỉ có trong thức ăn động vật, nhưng caroten vốn sẵn có ở
RAU CÓ MÀU XANH ĐẬM, CÁC LOẠI CỦ QUẢ có màu da .cam. Bữa ăn hàng ngày phải có
rau xanh, bát bột của các cháu phải có màu hoặc màu xanh của rau nghiền, hoặc
màu đỏ của cà rốt. Các loại thức ăn giàu caroten thường kèm theo nhiều chất dinh
dưỡng quư khác như riboflavin, vitamin C, canxi, sắt và các yếu tố vi lượng. Chế
độ ăn của trẻ nên có THÊM CHẤT BÉO ĐỂ HỖ TRỢ HẤP THU CAROTEN. Ở nước ta, các loại rau có hàm lượng caroten đang chú ư là rau muống, rau
ngót; xà lách, rau diếp, rau giền, hành lá, hẹ lá, rau thơm, các loài củ quả như
cà rốt, gấc... Do đó mỗi gia đ́nh nên có một khoảng đất trồng rau.
2. Tăng cường Vitamin
A trong một số thức ăn.
Người ta đă nghiên cứu có
KẾT QUẢ VIỆC TĂNG CƯỜNG VITAMIN
A vào một số thức ăn như mỡ
macgarin, BỘT SỮA GẦY (CHÂU Âu đường (một số nước Trung
Mỹ) và ḿ chính (Philippirle). Quan trọng NHẤT LÀ TĂNG CƯỜNG VITAMIN A
vào sữa gầy v́ loại này hay được sử dụng trong các CHƯƠNG
TR̀NH DINH DƯỠNG Ở
các nước mà bệnh khô mắt đang lưu hành. Trước khi phân
phối bột sữa gầy phải kiểm tra xem loại sữa này đă được tăng cường VITAMIN
A
chưa.
3. Cho viên nang vitaḿn
A LIỀU CAO.
Ở những vùng đă phát hiện có vấn đề
thiếu vitamin A, song song với các biện pháp dài hơn việc cho uống các viên NANG
VITAMIN A
liều cao là biện pháp trước mắt có hiệu quả ngay.
Thông thường người ta cho
UỐNG DỰ PH̉NG 1 VIÊN NANG 200.000
UI (đơn vị quốc tế) mỗi năm 2 lần
(đối với trẻ dưới 12 tháng cho 1 viên nang 100.000 UI) Trong trường hợp nguồn
VITAMIN A có hạn, người ta định ưu tiên cho các vùng có tỷ lệ mắc
bệnh cao và các nhổm trẻ bị đe dọa nhất như các cháu bị suy dinh dưỡng vừa và
đặng, các cháu vừa mắc bệnh sởi, ho gà, ỉa chảy...
Trong trường hợp gặp các
bệnh đang tiến triển (bất kỳ ở giai đoạn nào) phác đồ điều trị theo Tổ
CHỨC Y tế thế giới như sau:
- Ngay sau khi chẩn đoán:
200.000 UI THEO ĐƯỜNG UỐNG HOẶC 100.000 UI
tiêm bắp.
- Ngày hôm sau: 200.000
UI theo đường uống.
- 2-4 tuần lễ sau, hoặc
bệnh nặng thêm hoặc trước khi xuất viện 200.000
UI THEO ĐƯỜNG UỐNG. Phác đồ này vừa để điều trị t́nh trạng thiếu
vitamin A ĐANG TIẾN TRIỂN, VỪA TĂNG DỰ TRỮ VITAMIN A ở gan. Đối với trẻ em dưới
1 tuổi dùng 1/2 liều nói trên. Chỉ tiêm BẮP BẰNG CHẾ PHẨM VITAMIN A
tan trong nước (chứ không phải dung dịch dầu) khi bệnh
nhân bị nôn hoặc ỉa chảy nặng. Mọi người đều biết các bệnh nhiễm khuẩn, nhất là
sởi cũng tác động đến mắt nên đặc biệt nguy hiểm đối với trẻ thiếu vitamin A. Do
đó, công tác pḥng chống bệnh thiếu dinh dưỡng và nhiễm khuẩn phải được triển
khai trong các hoạt động của chăm sóc sức khỏe ban ĐẦU.
BƯỚU CỔ DO THIếU IốT
Bệnh bướu cổ do thiếu iốt
là một bệnh có tầm quan trọng lớn ở CÁC
VÙNG NÚI Việt Nam. Theo số liệu của Bệnh viện Nội tiết, vùng bướu cổ Việt Nam
hiện nay đă được xác định bao gồm toàn bộ vùng núi thuộc 15 tỉnh với một số dân
cần được pḥng bệnh khoảng 7 triệu người. Tỷ lệ mắc bệnh chung ở miền NÚI PHÍA
BẮC LÀ 38%, Ở miền núi trung bộ là 27%, và ở TÂY
NGUYÊN LÀ 29%. Ở CÁC VÙNG BƯỚU CỔ NẶNG TỶ LỆ MẮC bệnh thiểu trí (Crenitism) vào
khoảng 1 8-2%. Năm 1993 một cuộc điều tra trên 3000 trẻ em lứa tuổi học sinh cho
thấy 94% có biểu hiện thiếu iốt trong đó 55% thiếu nặng, 23% thiếu vừa, 16%
thiếu nhẹ. Đáng chú ư là ở NHIỀU VÙNG ĐỒNG bằng củng bị thiếu iốt:
A. NGUY? NHÂN Và ư NGHĩA SứC KHOẻ Xă
HộI
Nội tố của tuyến giáp
trạng là tyroxin cần thiết cho sự phát triển thể chất và tinh thần của trẻ em và
điều ḥa tiêu hao năng lượng. Iốt là thành phần cơ bản của tyroxin, đó là một
chất dinh dưỡng thiết yếu đối với cơ thể với nhu cầu hàng ngày chỉ từ 0,1 -0,15
mg. Hàm lượng chất iốt trong thức ăn cả thực vật và động vật phụ thuộc vào hàm
lượng iốt có trong đất ở ĐỊA PHƯƠNG
ĐÓ. Ở
nhiều nơi, nhất là vùng núi, đất và nước
rất nghèo chất iốt.
Ở MỘT SỐ THỨC ĂN NHƯ SẮN, BẮP cải có một
số hợp chất chứa thioglycozit, thioxyanit có khả năng gây bướu cổ trên thực
nghiệm nhưng chưa có căn cứ để chứng minh vai tṛ đó ở NGƯỜI.
Khi thiếu iốt trong khẩu
phần, sự tạo thành hocmôn tyroxin bị giảm sút. Để bù trừ vào thiếu hụt đó tuyến
giáp trạng dưới sự kích thích của hoocmôn tuyến yên phải sử dụng có hiệu quả hơn
nguồn iốt đang có và ph́ to dần. Trong phần lớn trường hợp, sự ph́ to tuyến giáp
trạng biểu hiện một cơ chế bù trừ nên chức phận của nó vẫn duy tŕ được b́nh
thường. Tuy vậy nếu t́nh trạng thiếu iốt quá trầm trọng th́ có thể xuất hiện
thiểu năng tuyến giáp. Vấn đề nghiêm trọng nhất của thiếu iốt là ảnh hưởng đến
sự phát triển của bào thai. Người ta thấy rằng, nếu chế độ ăn thời kỳ có thai
nghèo iốt có thể ảnh hưởng đến năng lực trí TUỆ CỦA ĐỨA CON SAU NÀY.
Ở
vùng bướu cổ nặng ngoài một
số ít trẻ bị chứng thiểu trí c̣n có nhiều trẻ khác khả năng phát triển trí tuệ
kém. Điều đó ảnh hường rất lớn đến. cá một cộng đồng sau này.
B. PHÂN LOạI
Cách phân loại đơn giản nhất là dựa vào kích thước của
bướu cổ.
Bảng
6. Phân loại bướu cổ.
Độ |
Mô tả |
Oa |
Tuyến giáp b́nh thường |
Ob |
Tuyến giái trạng to, không b́nh thường nhưng chưa nh́n thấy
khi ngửa cổ
Bướu cổ nh́n thấy khi ngửa đầu |
1 |
Bướu cổ nh́n thấy khi đầu ở tư thế b́nh thường |
2 |
Bướu cổ nh́n thấy từ xa |
3 |
|
Khi có cục th́ ghi thêm kí hiệu N, ví dụ độ 2N |
Người ta gọi , là bệnh bướu cổ địa phương khi.
- ít nhất 5% thiếu niên có bướu cổ độ 1 trở lên.
- ít nhất 30% số người trưởng thành có bướu có độ OB
TRỞ LÊN.
Ở những nơi có trên 5% số em gái 12-14 tuổi có giáp trạng ph́ đại (từ
độ Ob trở lên) đ̣i hỏi phải có chương tŕnh can thiệp. Ớ CÁC VÙNG CÓ BƯỚU
CỔ ĐỊA PHƯỜNG, CÁC BIỂU HIỆN LÂM SÀNG THƯỜNG XUẤT HIỆN Ở CÁC EM GÁI HƠN LÀ CÁC
EM TRAI. Ở nữ giới do nhu cầu iốt tăng lên trong thời. kỳ có thai và cho con
BÚ NÊN CÁC BƯỚU CỔ THƯỜNG TO LÊN DẦN NGƯỢC LẠI Ở nam
giới chúng có khuynh hướng nhỏ dần đi sau thời KỲ DẬY TH̀.
C. PḤNG CHốNG BệNH BƯớU Cổ
Pḥng chống bướu cổ địa phương là
phải thỏa măn nhu cầu iốt của nhăn dân vùng đó bằng cách này hay cách khác.
Thông qua quá tŕnh phát triển kinh tế và mở mang màng lưới giao thông, CÁC THỨC
ĂN CÓ NHIỀU IỐT Ở vùng biển có điều kiện chuyên chở lên miền núi, đó
là những biện pháp dài hơn đ̣i hỏi thời gian và đầu tư lớn. V́ vậy cần phải song
song tiến hành các biện pháp can thiệp trực tiếp, cụ thể là:
1. Trộn iốt vào muối ăn
Đó LÀ
BIỆN PHÁP ĐĂ VÀ ĐANG ĐƯỢC ÁP DỤNG CÓ HIỆU QUẢ Ở NHIỀU nước. Mức thích hợp là một
phần iốt cho 25.000 đến 50.000 phần muối. Ở VIỆT NAM, CÔNG THỨC TRỘN LÀ MỘT 2,5
gam kaliiodat và 25,5 gam canxi-cacbonat (chất ổn định) cho túi muối 50 kg. 2.
TIÊM BẮP DẦU IỐT HÓA. Ở NHỮNG vùng quá xa xôi cách trở và nhất là có tỷ lệ mắc
bệnh cao người ta áp DỤNG PHƯƠNG PHÁP TIÊM BẮP DẦU IỐT HÓA CHO PHỤ NỮ Ở
thời kỳ sinh đẻ.
Nhờ chất iốt trong dầu hấp thụ chậm nên mỗi lần tiêm có
thể đáp ứng được nhu cấu từ 3 đến 5 năm. Nếu biện pháp này được áp dụng khi mới
bắt đầu có thai , nó pḥng ngừa được t́nh trạng thiểu tŕ đối với đứa trẻ sau
này.
Vấn đề tồn tại là giá thành quá
ĐẮT. Ở NƯỚC ta, từ những năm 1980, đă áp dụng thí
điểm tiêm lipiodol ở MỘT SỐ VÙNG NÚI CAO VÀ HẺO LÁNH. TỪ tháng 1 năm 1995, chính
phủ đă chủ trương toàn dân dùng muối iốt.
BỆNH T?PHÙ (BERI BERI) DO THIẾU
VITAMIN B1
Beriberi là một bệnh thiếu dinh
dưỡng HAY GẶP Ở NHỮNG NƯỚC ĂN GẠO. Ở NƯỚC TA, bệnh
c̣n lưu hành nhất là vào các thời kỳ giáp hạt, sau úng lụt, ở CÁC ĐỊA PHƯƠNG và
các đơn vị ăn gạo có lệ xay xát cao và nghèo các thức ăn bổ sung. Ba thể lâm
sàng hay gặp là:
- Thể ướt biểu hiện bằng phù và thường kèm theo suy
tim.
- Thể khô: Viêm đa dây thần kinh.
- Thể trẻ em.
Bệnh có thể xảy ra thành dịch khi
nhiều người cùng ăn chế độ ăn giống nhau dựa trên cùng một loại gạo. Thiếu
Vitamin Bl c̣n gây ra một số bệnh cảnh lâm sàng hay gặp ở những người NGHIỆN
RƯỢU. ĐÓ là:
- Viêm đa dây thần kinh do rượu mà về lâm sàng không
phân biệt được với Be ri be ri thể khô .
- Viêm cơ tim điều trị hiệu quả bằng Vitamin B1.
- Một thể viêm năo gọi là hội chứng Wernicke Korsakoff.
A.
CÁC THỂ L?M SÀNG
Bệnh bắt đầu bằng các
triệu chứng kín đáo. Trước tiên có thể thấy kém ăn, khó chịu, đi lại khó v́ chân
yếu và nặng, đôi khi có phù nhẹ ở MẶT,
THƯỜNG ĐÁNH trống ngực và hay đau vùng trước tim, mạch hơi nhanh. Có CẢM GIÁC
ĐAU Ở CÁC CƠ BẮP CHÂN VÀ TÊ Ở các chi. Phản xạ gân thường giảm, đôi khi tăng. T́nh trạng
trên có thể kéo dài, cuộc sống và lao động tuy có vẻ b́nh thường nhưng năng suất
kém. Bất kỳ lúc nào bệnh cũng có thể chuyển sang các thể nặng hơn.
1 Thể ướt.
Phù là bệnh cảnh tiêu biểu, có
thể xuất hiện nhanh không những ở CÁC CHI
MÀ CẢ Ở MẶT, thân và các hốc thanh mạc. Một đặc điểm cần lưu ư trong phù do
thiếu vitamin B1 là phù từ dưới chân lên và bao giờ cũng đối xứng. Bệnh nhân
thường đánh trống ngực và có thể khó thở, ăn kém và khó tiêu.
Các chi thường đau khi đi
lại, cơ bắp chân thường sưng và đau khi ấn vào. Các tĩnh ltỉạch cổ thường nổi
lên và đập mạnh. áp lực tâm trương thấp và áp lực tâm thu cao lên một cách không
cân đối, mạch thường nhanh, da nóng do hiện tượng giăn mạch. Khi tim bắt đầu
suy, da lạnh và tái nhất là ở mặt. Điện tâm đồ THƯỜNG KHÔNG ĐỔI CÓ KHI CÓ ĐIỆN
THẾ THẤP, SÓNG T
ngược chiều, tim to nhất là bên phải. Không có albumin niệu, tinh thần bệnh nhân
b́nh thường. Bệnh nhân có thể phù nặng, suy tim, khó thở và chết.
2. Thể khô.
Bệnh cảnh chính là viêm và liệt
nhiều dây thần kinh ngoại vi biểu hiện băng sự suy yếu đối xứng hoặc mất cảm
giác, vận động và các chức phận phản xạ thường là đoạn dưới của các chi. Các cơ
bị teo và suy yếu dần, đi lại trở nên khó khăn. Bệnh nhân g |