DINH DƯỠNG VÀ AN TOÀN THỰC PHẨM
CHƯƠNG XIII: NGUYÊN TẮC CHUNG VỀ DINH
DUỠNG ĐIỀU TRỊ
MỘT SỐ
KHÁI NIỆM VỀ ĂN UỐNG CỦA NGƯỜI BỆNH
Dinh dưỡng điều trị học l?một NG?H
KHOA HỌC VỀ ĂN UỐNG CHO NGƯỜI BỆNH. N?/FONT> nghiên cứu và đưa ra những nguyên tắc ăn uống cho những
bệnh khác nhau.
Nhiệm vụ của dinh dưỡng điều trị là đưa liệu pháp ăn
uống vào phối hợp với các phương tiện điều trị khác (thuốc, lư liệu pháp...).
Phần thực hành của dinh dưỡng điều trị là nấu các chế
độ ăn điều trị, là nơi thực hiện nhu cầu thực tế và nhu cầu lư thuyết của các
chế độ ăn đặc trưng cho các bệnh khác nhau và đưa ra cách CHẾ BIẾN THỰC PHẨM ĐẶC
BIỆT.
I. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA DINH
DƯỡNG ĐIềU TRỊ:
Y
học l?một ng?h khoa học ứng dụng c?mục đ?h cuối c?g
l?điều trị v?ph?g bệnh. Sự hiểu biết về nguy? nh? bệnh tật l?cần thiết đạt mục
đ?h d? v?thế n? sự tiến bộ của điều trị theo song song với sự tiến bộ về sự hiểu
biết nguyện nh? bệnh. Tuy nhi? kh?g phải y học lu? lu? biết được nguy? nh? g?
bệnh, mặc d?kh?g biết nguy? nh? nhưng điều trị cũng đưa lại k?#7871; quả tốt.
Đ?là nhờ kinh nghiệm của nhân dân tích lũy mấy ngh́n năm trong sự đấu tranh với
thiên nhiên và bệnh tật. Điều trị trước hết là một nghệ thuật có trước khi y học
trở thành một ngành khoa học. Trước khi biết bệnh con người đă biết chữa bệnh,
chủ yếu là chữa triệu chứng. Từ trước công nguyên (460-377 trước CN) y học đă
nói tới vai tṛ của ăn uống và cho ăn uống phải là một phương tiện để chữa bệnh.
Hypocrat một danh y thời cổ rất quan tâm đến vấn đề điều trị bằng ăn uống, ông
viết: "Thức ăn cho người bệnh phải là phương tiện điều trị và các phương tiện
điều trị của chúng ta phải là các chất dinh dưỡng" . Theo ông, cấn phải
biết chọn thức ăn
về chất cũng như về lượng sao cho
phù hợp với từng giai đoạn của bệnh. Ông khuyên rằng: "Phải chú ư xem nên cho
người bệnh ăn nhiều hay ít, ăn một lúc hay rải rác nhiều lần. Lại phải chú ư tới
thời tiết, địa phương, thói quen và tuổi tác của người bệnh" và "Việc hạn chế
hoặc cho ăn thiếu chất_ bổ rất ngụy hiểm đối với người mắc bệnh mạn tính". Thời
ḱ Trung cổ, bác sĩ người La Mă Akhlepiat (128-56 trước CN) quan niệm rằng Dinh
dưỡng điều trị chiếm vị trí chu yếu, theo cách nh́n của ông th́ ông không công
nhận biện pháp dược lí mà ông đưa ra một biện pháp bao gồm: Chế độ ăn và vật lư
liệu pháp.
Từ thế kỷ 17 Lavoisier
(1743-1794) đă khởi xướng việc nghiên cứu tiêu hao nâng lượng và mở đầu thời kỳ
mới về nghiên cứu chuyển hóa trong dinh dưỡng nhất là chuyển hóa về mặt hóa học,
vấn đề ăn điều trị ngày càng được các nhà y học chú ư Sidengai người Anh có thể
coi là người thừa kế những di chúc của Hypocrat đă chỉ ra: "Để nhằm mục đích
pḥng bệnh cũng như điều trị trong nhiều bệnh chỉ cần cho ăn không chế độ ăn
thích hợp và sống một đời sống có
TỔ CHỨC HỢP LÍ "
Ông thấy cần thiết là phải hoàn chỉnh được
chế độ ăn cho bệnh Gút và bệnh béo ph́, ông biết là bệnh nhân rất thích thuốc,
ông cho rằng việc ăn uống của bệnh nhân liên quan với thuốc có một ư nghĩa rất
lớn, ông yêu cầu thay hiệu thuốc bằng nhà bếp Hải Thượng Lăn Ông, một thầy thuốc
nổi tiếng của Việt Nam hồi thế kỷ 18 cũng rất chú ư đến vấn đề ăn uống của người
bệnh. Ông đă dùng ốc bươu để trị chứng tiêu khát và dùng củ chuối hột ép nước
uống để điều trị bệnh đái đường. Ông viết: "Có thuốc mà không có ăn uống th́
cũng đi đến chỗ chết. Đối với người nghèo không những ông đến thắm bệnh cho
thuốc không lấy tiền mà c̣n trợ cấp cả lương thực, thực phẩm cần thiết nửa. Vào
cuối thế kỷ 18 và đặc biệt nửa cuối thế kỷ 19 dinh dưỡng điều trị đă phát triển
hơn và có nhiều triển vọng, sự phát minh ra vitamin cùng với sự phác thảo ra
những trấn đề về các chất khoáng trong dinh dưỡng người bệnh...
Ngày nay với những tiến bộ
VỀ NGHIÊN CỨU DINH DƯƠNG Ở lĩnh vực tế bào đă có nhiều công
tŕnh nghiên cứu về sự lựa chọn các chất dinh dường ở PHẠM VI TOÀN CƠ THỂ (ăn thừa, ăn thiếu, ăn đói, nhịn ăn,
sinh đẻ và tiết sữa, bệnh tật và căng thẳng...) các kết quả nghiên cứu gần đây
đă xác định vai tṛ của các chất chống oxy hóa đối với các gốc tự do để đề pḥng
các bệnh tim mạch, một số thể ung thư và bệnh đái tháo đường.
II.
VAI TR̉ CỦA ĂN UỐNG.
1. Ăn uống đảm bảo sự phát triển của cơ thể.
Đặc biệt là trẻ em, nếu trẻ được nuôi dưỡng tốt cơ thể
trẻ sẽ phát triển nhanh. Ví dụ cân nặng trung b́nh của trẻ sơ sinh đủ tháng là
2800- 3000 g, lúc trẻ được 12 tháng tuổi th́ cân nặng gấp 3 lần. Chiều cao lúc
mới sinh trung b́nh là 48-50 cai, khi 12 tháng tuổi th́ nhiều cao tăng lên gấp
rưỡi. Đối với phụ nữ có thai rất cần các chất dinh dưỡng để phát triển thai.
2. ăn uống tốt nâng cao sức đề
kháng chung của cơ thể chống lại bệnh tật nhất là các bệnh nhiễm khuẩn và khi có
dịch.
Người ta thấy súc vật thí nghiệm được nuôi
dưỡng tốt th́ sản xuất kháng thể gấp 10 lần khi nuôi dưỡng kém. Hai nhóm chuột
được tiêm độc tố thương hàn, nhóm nuôi thoàn toàn bằng ngũ cốc tỉ lệ chết gấp 4
lần so với nhóm ăn bằng ngũ cốc cộng với casein.
Trên cơ thể người, đặc BIỆT LÀ Ở
trẻ em, người ta thấy những trẻ em bị suy
dinh dưỡng th́ nguy cơ mắc các bệnh viêm đường hô hấp và bệnh ỉa chảy cao hơn
rất nhiều so với. những trẻ b́nh thường.
3. ăn uống ảnh hưởng tới tỉ lệ tử vong.
Theo UNICEF, tỉ lệ tử vong trẻ
dưới 1 tuổi của 130 nước trên thế giới (1984) (Tính theo tỉ lệ %0 ):
1960 1982
4. Vai tṛ của ăn uống với lao dộng và lối
sống xă hội.
ăn uống tốt không những giữ G̀N
SỨC KHỎE Ở
mức b́nh thường mà c̣n nâng cao được hiệu
suất lao động (trí óc và chân tay). Nếu khẩu phần ăn giảm nhiều th́ sức lao động
cũng giảm theo.
T́nh h́nh sản xuất và tiêu
thụ thức ăn trong một số nước ảnh hưởng quyết định tới lối sống của nhân dân
nước đó.
5. ăn có vai tṛ tích cực trong pḥng và điều
trị bệnh.
Người ta đă biết chế độ ăn này
hay chế độ ăn khác có thể không chỉ làm tăng sức chống đỡ của cơ thể đối với
những bệnh khác nhau mà c̣i có tác động ngược lại nghĩa là làm giảm sức chống đỡ
cửa cơ thể. Chuyển chế độ ăn này sang chế độ ăn khác gây ra sự xáo trộn cơ thể
trong đó có khả năng phản ứng của cơ thể. Về phương diện này chế độ ăn biểu hiện
tác động của ḿnh không chỉ tới toàn bộ cơ thể mà c̣n tới tất cả các quá tŕnh
vận chuyển trong cơ thể ĐANG Ở
t́nh trạng bệnh lư hay kích thích gây bệnh.
Nước ta đang ở TRONG thời ḱ kinh tế chuyển tiếp.
Bên cạnh mô h́nh bệnh tật của một nước kém phát triển trong đó suy dinh dưỡng và
nhiễm khuẩn là phổ biến đang xuất HIỆN SỰ GIA TĂNG NHIỀU LOẠI BỆNH HAY GẶP Ở
các nước phát triển. Các bệnh mạn tính không lây là MÔ
H̀NH BỆNH TẬT CHÍNH Ở
các nước có nền kinh tế phát triển. Tuy
c̣n đôi điều chưa sáng tỏ nhưng các ư kiến cho rằng dinh dưỡng có vai tṛ quan
trọng trong việc pḥng cũng như góp phần điều trị các bệnh này. Béo ph́ là một
t́nh trạng sức khỏe có nguyên nhân dinh dưỡng (chiếm 60-80% các trường hợp). Vào
cơ thể các chất protein, lipit, gluxit đều có thể chuyển thành chất béo dự trữ.
Nhiều nghiên cứu cho thấy hàm lượng cholesterol trong máu và huyết áp tăng lên
theo mức độ béo, khi cân nặng giảm sẽ kéo theo giảm huyết áp và cholesterol.
Thực hiện một chế độ ăn uống hợp và hoạt động thể lực đúng mức để duy tŕ cân
nặng ổn định ở người trưởng thành là nguyên tắc cần thiết để tránh béo ph́. Hiện
nay, hầu như mọi người đều thừa nhận rằng chế độ ăn uống là một nhân tố quan
trọng
trong pḥng ngừa và xử trí một số bệnh tim mạch, trước hết là
bệnh tăng huyết áp và bệnh mạch vành. Một chế độ ăn hạn chế muối, giảm năng
lượng và rượu có thể đủ để làm giảm huyết áp ở phần lớn đối tượng có tăng huyết
áp nhẹ . Ở NHỮNG NGƯỜI TĂNG
huyết áp nặng chế độ ăn đó cũng làm giảm bớt liều lượng các thuốc giảm huyết áp
cần thiết.
Mối liên quan giữa bệnh mạch vành với số lượng
cholesterol toàn phần trong máu đă được thừa nhận rộng răi. Người ta thấy thành
phần chính trong chế độ ăn có ảnh hưởng đến hàm lượng cholesterol huyết thanh là
các axit béo no. Axit béo no có nhiều trong chất béo động vật. Do đó một chế độ
ăn giảm chất béo động vật, tăng dầu thực. vật, bớt ăn thịt, tăng ăn cá là có lợi
cho người có rối loạn. chuyển hóa cholesterol. Chế độ ăn nhiều rau và trái cây
có tác dụng bảo vệ cơ thể đối với bệnh mạch vành tuy cơ chế c̣n chưa rơ ràng
CÓ
thể đó là do tác dụng của chất xơ có nhiều trong rau quả, cũng có thể một chế độ
ăn thực vật sẽ làm giảm huyết áp, một nhân tố nguy cơ của các bệnh mạch vành.
Những nghiên cứu gần đây cho thấy chế độ ăn ít xơ và
nhiều chất béo đặc biệt là chất béo băo ḥa làm tăng nguy cơ ưng thư đại tràng.
Tác dụng của chất xơ có thể là do chúng chống táo bón pha loăng các chất có thể
gây ung thư trong thực phẩm và giảm thời gian tiếp xúc của niêm mạc đường tiêu
hóa với các chất này. Người ta c̣n thấy vai tṛ của chế độ ăn trong bệnh đái
đường, chế độ ăn thực vật, nhiều rau có liên quan đến hạ tháp tỉ lệ mắc đái
đường thể không phụ thuộc vào Insulin.
Không thể phủ nhận được vai tṛ của ăn uống đối với các
bệnh dinh dưỡng như suy dinh dưỡng protein năng lượng, thiếu Vitamin A và bệnh
khô mắt, bướu cổ do thiếu iốt, thiếu máu do thiếu sắt... .
6. ăn điều trị c̣n có vai tṛ trong phục hồi có thể.
Trong trường hợp bị thương phần mềm, găy xương, cơ thể
suy nhược sau sốt rét, sau. mổ, chế độ ăn hợp lí sễ giúp cho vết thương chóng
lành và phục hồi cơ thể (đặc biệt là protein và vitamin C). Một số trường hợp,
bệnh cấp tính qua đi rất nhanh, nếu bệnh nhân coi ḿnh đă khỏe và không có chế
độ ăn thích hợp th́ bệnh có thể chuyển sang mạn TÍNH.
III .CƠ SỞ CỦA DINH DƯỠNG ĐIỀU TRỊ
HỌC.
CƠ SỞ CỦA DINH dưỡng điều trị họe là việc nghiên cứu
t́nh trạng và quá tŕnh trao đổi chất của người bệnh dựa vào đặc tính từng thời
kỳ bệnh, kể cả mức độ nhiễm trùng, mức độ trầm trọng vô sự thay đổi h́nh thái
các cơ quan và TOÀN BỘ CƠ THỂ Ở bệnh này hay bệnh khác.
Nhiều công tŕnh nghiên cứu đă
chứng minh là chất và lượng thức ăn ăn vào ảnh hưởng rất lớn đến hoạt tính của
các nội tiết tố. Cho ăn nhiều gluxit làm tăng hoạt tính Adrenalin, nhiều protein
làm tăng hoạt tính của Tyroxin. Hoạt tính của adrenalin c̣n phụ THUỘC VÀO LƯỢNG
VITAMIN
C Ở thường thận.
Người bị bệnh tăng toan thường bị Ợ
CHUA, đau ở vùng thượng vị có cảm giác co thắt ở ngực. Đa số bệnh nhăn này dễ bị
kích thích. Diễn biến đường huyết của người bị bệnh tăng toan giao ĐỘNG RẤT LỚN.
KHI LƯỢNG ĐƯỜNG Ở máu tăng !ăn th́ sự tiết dịch của dạ dày giảm đi,
khi lượng đường huyết giảm đi th́ sự tiết dịch của đa dày tăng lên. Những dao
động đột ngột của đường huyết gây ra những đao động mạnh về tiết dịch dạ dảy.
Nếu cho người bệnh ăn giảm gluxit để giảm sự táng đường huyết và cho ăn nhiều
bữa gần nhau để đường huyết khỏi giảm xuống nhanh th́ các triệu chứng tăng toan
cũng sẽ bị mất đi.
Đại đa số người bệnh bị tăng toan là những .người thuộc
loại thần kinh yếu. Khi ăn hạn chế gluxit và ăn rải ra nhiều bữa không những làm
mất triệu chứng tăng toan mà c̣n giúp người bệnh trở nên b́nh tĩnh và cân bằng
hơn. Như vậy là trong một số- trường hợp dịch thể trở thành yếu tố điều ḥa, hệ
thần kinh trung ương trở thành bị điều ḥa và do đó ăn uống có thể ảnh hưởng đến
cơ chế điều ḥa của hệ thần kinh thực vật.. Trong các bệnh tiêu hóa ăn uống hợp
lí là biện pháp điều trị chủ yếu v́ đẩy là nơi chuẩn bị và sử dụng thức ăn ăn
vào.
IV. NGUY? TắC Và Tổ CHứC CủA ĂN ĐIềU TRị. ,
Khi thực hiện chế độ ăn điều trị có thể sử dụng những
nguyên tắc khác nhau tùy đặc tính của từng bệnh, t́nh trạng bệnh và các đặc tính
cá biệt khác.
Trong dinh dưỡng điều trị người ta sử dụng rộng răi các
nguyên tắc hạn chế về số lượng và chất lượng. Sự giới hạn về số lượng tùy thuộc
giới hạn chất lỏng đưa vào như các bệnh thuộc hệ tim mạch, vữa xơ động mạch, cao
huyết áp. Trong một số bệnh đ̣i hỏi giới hạn cả số lượng và chất lượng. Do đó
khi xây dựng thực ềơn cho bệnh nhân cần chú ư các nguyên tắc sau đây:
1 Khi đưa ra các chế độ ăn khác nhau phải đảm bảo sự
cần đối, sự đấy đủ và sự toàn diện của nó, sao cho phù hợp: với đặc tính biết
trước của bệnh, chú trọng những bệnh đặc biệt .
2. Xác định được thời hạn hạn chế
của. việ.c sử dụng các chế độ ăn không cân đối, khổng toàn diện và không ĐẦY ĐỦ
Ở những ảnh khác nhau.
3. Quy định những nguyên
tắc ĂN UỐNG Ở
những bệnh nhân tiến hành liệu pháp đặc
biệt (liệu pháp sinh hóa, liệu pháp điếu trị ).
4. Đề ra các nguyên tấc phối hợp các yếu tố dinh dưỡng,
điều trị với việc sử dụng kháng sinh và các phương tiện khác của liệu pháp
thuốc.
5. Qui định chế độ ăn phải phù hợp với hoạt động của
bệnh nhăn, chú ư tới việc đề pḥng sự hạn chế hoạt động sau này do ảnh hưởng của
ăn uống gây ra.
Khi xây dựng từng thực đen cụ thể, vấn đề quan trọng là
việc lựa chọn các thực phẩm, các thực phẩm sử dụng luôn tuân thủ theo nguyên tắc
tác động cơ học và hóa học. Để tránh các tác động cơ học khi chế biến thức ăn
cần chú ư:
- Hạn chế hoặc loại trừ các thức ăn thô, các thực phẩm
khó tiêu nhiều xenluloza như: bánh ḿ đen, củ cải; bắp cải, cây họ đậu
- Xử lí các thực phẩm bằng cách nghiền nhỏ, chà xát,
nhào trộn và quấy đảo để đảm bảo sự tiêu hóa và hấp thu thức ăn tốt nhất.
- Sử dụng những phương pháp nấu đặc biệt nhằm làm giảm
chất xơ, ḥa tan propectin và làm mềm thực phẩm. Cách chế biến tốt nhất là
phương pháp hấp, có thể sử dụng phương pháp nướng; nhưng nên hạn chế phương pháp
rán.
Để loại trừ các tác động hóa học khi chế biến thực phẩm
nên loại trừ các thực phẩm giàu chất chiết xuất, hạn chế biến món án gầy kích
thích tiết dịch vị của dạ dày và ruột. Trong khẩu phần ăn nên loại trừ nước dùng
đặc, súp cà chua, nước chấm đặc, nước sốt, gia vị, dưa chuột muối... Phương pháp
nấu là tất nhất.
V.
NHU CẦU DINH DƯỠNG CỦA NGƯỜI BỆNH.
1. Nguyên tắc phải đảm bảo
a) Cung cấp đầy đủ năng lượng cần thiết.
b) Đủ các chất dinh dưỡng.
c) Đủ nước và điện giải ăn uống
tốt giúp cho bệnh .nhân tránh được sự phá hủy về thể chất và
phục hồi những dự trữ đă mất.
2. Nhu cầu cụ thể:
Nhu cầu về năng lượng:
Bệnh nhân cần số lượng Calo bàng số Calo của chuyển hóa
cơ bản: 1250-1500Kcal, cộng thêm những nhu cầu sau đây do bệnh tật đ̣i hỏi
- 20% nếu bệnh nhân vật vă nhiều.
- 18% nếu sốt cao lên 10C
- 10% nếu tổ chức tế bào bị hủy hoại.
Tổng nhu cầu năng lượng dao động từ 1800- 2200kcal.
tương đương với lao độ ng nhẹ .
b) Nhu cầu về protein:
- 10-15% năng lượng khẩu phần tức
là 1-1,5g/kg/24giờ (Tốt nhất là 12 +1%). Tỉ lệ protein động vật trên proteiN
TỔNG SỐ LÀ 50%.
Ở người b́nh thường đă rất
cần protein, người bệnh lại cần thiết hơn. Trong bỏng, nhiễm trùng, xuất huyết
cơ thể mất đi một lượng protein khá lớn do dịch hay tế bào cơ thể bị hủy hoại.
Do vậy protein phải lớn hơn 1g/kg/24h. Nhưng sự cung cấp protein cho bệnh nhân
tùy từng giai đoạn củabệnh và tùy từng bệnh. Ví dụ:
- Giai đoạn đầu: Cơ thể giáng hóa nhiều protein, cân bằng Ni
tơ âm tính, protein chỉ cung cấp: 0,25- 0,5g/kg.
- Giai đoạn bệnh đă đỡ:
lg/kg/24h. Dần dần tăng lên 1,2-1,4g/kg/24h.
- Giai đoạn hồi phục: 1,5-2g/kg/24h. Trẻ em có thể lên
tới 3-4g/kg/24h.
- Trong một số bệnh có rối loạn chuyển hóa (viêm thận
có urê máu cao) th́ chỉ cần 0,3g/kg, nhưng chỉ dùng trong thời gian ngắn (tối đa
là 10 ngày).
Protein động vật có giá tŕ sinh học cao hơn nên tỉ lệ
protein động vật phải là 30-50% tổng số protein.
c) Nhu cầu về lipit:
Cao do lipit cung cấp nên khoảng từ 20- 30% trong tổng
số Calo. Khi tính toán nhu cầu về lipit cần phải chú ư đến lipit thực vật v́ nó
cung cấp axit béo không no và vitamin E.
d) Nhu cầu gluxit:
Lượng gluxit trong khẩu phần nên cân đối với protein và
lipit theo tỉ lệ:
P:L:G = 1:0,7:5 . Tỉ lệ
cân đối này giúp cơ thể hấp thu được dễ dàng các chất dinh dưỡng. Khi đưa gluxit
chú ư thêm một lượng vitamin B1. Nên có một tỉ lệ cân đối giữa thành phần của
gluxit với nhau. Lượng tinh bột khoảng 75%, lượng đường Saccaroza khoảng 10-15%.
Chú ư hàm lượng các chất xơ (pectin, xenluloza ) v́ pectin ức chế các hoạt động
gây thối ở RUỘT VÀ tạo điều kiện
thuận lợi cho hoạt động của các vi khuẩn có ích, xenluloza ngoài chức năng kích
thích nhu động ruột c̣n góp phần bài tiết cholesterol ra khỏi cơ thể, người ta
thấy rằng nếu lượng Xenluloza < 1,5% sẽ gây táo bón, nhưng nếu tăng lên trên
4,5% th́ lại gây ỉa chảy. Do vậy lượng peetin nên là 3% và Xenluloza nên là 2%.
e) Nhu cầu vitamin:
Tốt nhất vẫn là các vitamin có
trong thức ăn, có thể dùng vitamin tổng hợp như vitamin B1, B2, PP, C, A, D, K.
TRƯỜNG HỢP BỆNH NẶNG TH̀ VITAMIN B1 VÀ VITAMIN
C là
cần thiết nhất.
g) Nhu cầu nước và muối khoáng:
Trước hết phải cung cấp đủ cho bệnh nhân lượng nước và
muối khoáng cần thiết. Đặc biệt là trẻ ỉa chảy, nôn, sốt cao. Muốn biết đủ hay
thiếu phải làm điện giải đồ và có kế hoạch bồi phụ cho bệnh nhân. Tóm lại khẩu
phần ăn cho bệnh nhân nên cần:
P:L:G =13:22:65 (% năng lượng)
= 1:0.7:5 (% năng lượng)
3. Chỉ số giới hạn
Nhu cầu dinh dưỡng cho bệnh NHÂN
PHẢI Ở
trong giới hạn sau:
- Năng lượng do piotein cung cấp không tháp
dưới 10% và không cao 20% tổng số năng lượng của khẩu phần. Tỉ số protein động
vật không thấp dưới 25% của tổng số protein.
- Calo do lipit không cao quá 35%
tổng số Calo của khẩu phần. Để tránh nhiễm toan do protein, th́ số lượng gluxit
tốt nhất phải hơn 4 lần protein, không được thấp hơn 2 lần
- Để tránh nhiễm toan do lipit, th́ số lượng gluxit ít
nhất phải là 2 lần số lượng lipit.
Nhu cầu dinh dưỡng cho một người nặng 50
kg
Loại chế độ ăn |
Protein (g) |
Lipit (g) |
Gluxit(g) |
Calo |
Ăn rất nhẹ |
40 (0.8g/kg) |
28 |
200 |
1212 |
ăn nhẹ |
50 (1g/kg) |
35 |
250 |
1515 |
ăn b́nh thường |
60 (1.2g/kg)
70 (1.4g/kg) |
42
49 |
300
350 |
1818
2121 |
ăn bồi dưỡng |
80 (1.6g/kg)
90 (1.8g/kg)
100 (2g/kg) |
56
63
70 |
400
450
500 |
2424
2727
3030 |
Bữa ăn phải chia cho hợp lí, ít nhất là 3 bữa. Bữa sáng
và tối nên ăn nhẹ 20-30% năng lượng khẩu phần. Nếu ăn 2 bữa th́ hấp thu xấp xi
75% năng lượng khẩu phần, 3 bữa th́ hấp thu xấp xỉ 85% năng lượng khẩu phần.
4. Các chế độ ăn thường dùng trong bệnh viện.
a)Chế
độ ăn b́nh thường:
-1800-2000 Kcal. Protein là 60-70g trong đó protein
động vật chiếm 25-30% trong tổng số protein.
- Dùng cho bệnh nhân mới vào viện không phải kiêng khem
ǵ đặc biệt hoặc bệnh nhân trong giai đoạn ổn định của bệnh. Nhu cầu dinh dưỡng
gần giống người thuộc loại lao động nhẹ .
b) Chế độ ăn bồi dưỡng:
- 2600-3000Kcal, protein 70-100g (protein động vật
chiếm 30-50%).
- Dùng cho bệnh nhân chuẩn bị mổ và giai đoạn hồi phục
của bệnh.
c) Chế độ ăn mềm:
- 1250-1800 Kcal, protein 40-75g (protein động vật là
50-70%).
- Dạng chế biến: Phở, cháo, miến.
- Dạng chế biến: sữa, cháo. CÓ
thể dùng sữa đậu nành thay cho sữa ḅ khi thiếu hoặc hỗn hợp sữa đậu nành cộng
10% sữa ḅ.
- Dùng cho bệnh nhân sốt nhiễm trùng nặng.
e) Chế độ ăn tăng protein, giảm
lipit, tăng Calo:
- Dùng cho bệnh nhân suy gan, viêm gan đă hồi phục, chế
độ ăn này cần nhiều protein động vật (thịt nạc, trứng, sữa...).
- Dùng cho bệnh nhân bị các bệnh tim mạch, thận.
i) Chế độ ăn hạn chế gluxit (giảm bột, đường):
- Dùng cho bệnh nhân đái tháo đường.
k) Chế độ ăn hạn chế xơ và các chất lên men:
- Dùng cho bệnh nhân viêm ruột cấp tính.
I) Chế độ ăn hoàn toàn lỏng ( Chế độ ăn bằng ống
thông ):
- Dùng cho bệnh nhân hôn mê, tổn thương đường tiêu hóa
trên, uốn ván, viêm năo.
Một số chế độ ăn đặc biệt:
U: Dùng trong hội chứng urê máu cao
S: Dùng trong điều trị trẻ suy dinh dưỡng thể
Kwashiorkor.
SK: Sữa chua điều trị trong bệnh nhiễm khuẩn.
CHế Độ KI?G ĂN CHỉ UốNG
Đặc điểm của chế độ ăn này là bệnh nhân không ăn nên có
tác dụng cho bộ máy tiêu hóa được nghỉ hoàn toàn, hấp thu rất nhanh, có tác dụng
chống độc và lợi tiểu
Cho bệnh nhân uống các loại nước như: Nước lọc, trà
loăng (pha thêm ít đường) hoặc nước suối.
Thể tích: 1,5 lít/24 giờ, CÁCH 2
GIỜ CHO BỆNH NHÂN UỐNG 1 LẦN. CÓ thể uống
nước đường Saccaroza hoặc glucoza 60-100 g II,51ít, tức là 240-400 Kcalo. Chỉ
định trong các trường hợp sau đây:
- Viêm dạ dày ruột cấp tính.
- Urê máu cao.
- Suy tim.
- Xuất huyết đường tiêu hóa.
- Sau phẫu thuật.
- Nôn mửa, nhất là do nhiễm độc thai nghén.
Nhiễm khuẩn nặng bất ḱ nguyên nhân nào.
V́ chế độ này không đủ năng lượng và các chất dinh
dưỡng nên chỉ áp dụng cho bệnh nhân trong một vài ngày.
CHế Độ SữA Và SữA PHốI HợP
1 Chế độ sữa.
Các loại
sữa hay dùng
| |
Cách pha |
Protein |
Lipit |
Gluxit |
Calo |
| Sữa
tươi |
10% đường
5% đường |
3.9
3.9 |
4.4
4.4 |
14.8
9.8 |
116
95 |
| Sữa
đặc |
Pha
33% |
3.4 |
3.1 |
18.2 |
117 |
| Sữa
bột |
Pha
15% + 10 % đường |
4.4 |
4.1 |
15.4 |
117 |
Trong 1 lít sữa có 1,6g NaCl
1..2. Số lượng và cách dùng:
1,5 - 2 lít/24 giờ pha với nước trà, nước
cháo, nước luộc rau, ca cao, sữa sẽ rất dễ tiêu
1..3. Chỉ định:
Trong các trường hợp:
Các bệnh về thận như viêm thận cấp tính. Nên dùng sữa
đậu nành kết hợp với sữa ḅ để giảm bớt lượng muối trong sữa hoặc có thể dùng
các loại sữa ít muối.
- Bệnh nhân bị suy tim nặng có kèm theo phù: Khi dùng
nên rút bớt lượng sữa đi (nhằm giảm bớt muối) và nước cho thêm đường vào để tăng
năng lượng.
- Bệnh loét dạ dày tá tràng có tăng HCL: Chế độ này có
tác dụng cho dạ dày được nghỉ ngơi, trung ḥa bớt HCL, có thể dùng sữa đậu nành.
Trường hợp bị nhiễm trùng nặng: dùng trong những ngày
đầu, nếu lâu ngày phải dùng sữa phối hợp với các thức ăn khác.
1 4. Chống chỉ định:
Khi bệnh nhân dị ứng sữa. Các bệnh về đường ruột như
táo bón, ỉa chảy.
- Bệnh viêm túi mật, sỏi MẬT: Ở
bệnh nhân này khi dùng chế độ sữa th́ có trường hợp rất tốt, nhưng cũng có
trường hợp không tốt tùy từng bệnh nhân.
2. Sữa phối hợp:
Đó LÀ KẾT HỢP SỮA VỚI một hoặc vài loại thực
phẩm khác, sự kết hợp này sẽ tốt hơn khi dùng đơn THUẦN SỮA. NÓ gồm các loại:
2.1. Chế độ sữa và bột:
Kết hợp sữa với các loại bột như bột gạo, ḿ, sắn, khoai. Nhưng chế độ này cũng
không được tốt lắm v́ dễ gây táo bón, chỉ dùng khi nhiễm khuẩn đă đỡ.
2.2. Chế độ sữa, trứng, bột rau quả.
Dùng kết hợp sữa + trứng + bột +
rau +
đậu đỗ và các loại quả.
Là chế độ phối hợp tất, có đủ thành phần hơn và dễ tiêu
hơn. Nhất là dùng sữa đậu nành v́ protein cua sữa đậu nành là globulin (SỮA B̉
LÀ CASEIN).
CHế Độ ĂN RạN CHế MUốI
B́nh thường trong chế độ ăn hàng ngày có
l0-15g muối NaCl gồm: 40% muối dùng để nấu nướng.
- 40% muối dùng để chế biến các sản phẩm: gị, chả,
nước mắm, tương, cà...
- 20% muối có sẵn trong các thức ăn thiên nhiên như
sữa, trứng, nội tạng (óc thận, gan), cá, cua bể...
Hàm lượng Na có trong một số thực phẩm (tính theo mg
%):
| Cải xoong |
98.7 |
Chuối |
54.2 |
Nước mắm |
10.000 |
| Rau giền |
70.5 |
Dứa |
26.7 |
trứng |
146.9 |
| Su hào |
5.6 |
Mận |
9.6 |
Cá biển |
100 |
| Bí đỏ |
65.3 |
Cam |
4.4 |
Đường |
79.4 |
| Bắp cải |
48.2 |
Dưa hấu |
8.2 |
Sữa ḅ |
45.3 |
| Đậu cô ve |
21.5 |
Chanh |
3.0 |
Khoai lang |
55.6 |
| Giá đỗ |
10.0 |
Bánh ḿ |
390-670 |
Khoai tây |
17.1 |
| Rau muống |
18.0 |
Gạo |
158.0 |
Bột ḿ |
2.5 |
| Mồng tơi |
5.0 |
Cà chua |
3.0 |
Dưa cải |
1700 |
| Sữa mẹ |
18.5 |
Thịt ḅ |
77.9 |
Thịt lợn sấn |
35.6 |
| Gan |
78.6 |
Cá tươi |
39.3 |
|
|
-
Chế độ ăn hạn chế muối Nacl tương
đối
- Nghĩa là trong khẩu
phần ăn c̣n Nacl 1,25- 2,5g (hay Na = 0,5-1,0g).
- Thực hiện chế độ ăn cần phải:
+ Cấm nấu các
thức ăn bằng muối ( kể cả nước mắm).
+ Không được
dùng cà muối, cá muối, thịt muối...
+ Được phép
dùng: Các thức ăn có rất ít muối như thịt, cá nước ngọt, gạo,
khoai, rau quả tươi và các thức
ăn bản chất có khá nhiều muối như: trứng, sữa,
của nội tạng...
b) Chế độ ăn hạn
chế
muối Nacl tuyệt đối:
Đây là chế độ ăn hạn
chế Nacl chặt chẽ nghĩa là chỉ có Nacl 0,5-1g (hay Na = 0,195-0,395g ).
- Cấm dùng các thức ăn như chế
độ ăn trên và cấm cả thức ăn thiên nhiên có sẵn muối như: sữa, trứng,
cua.... Chế. độ ăn này c̣n có tên là chế độ Kempner gồm: Cơm, quả, đường
không có thịt, cá, sữa ḅ. .
c) Chỉ định:
Trong suy tim: hạn chế muối, nước, Cao, protein.
Nếu suy tim có cơn đột biến th́ hạn chế muối tuyệt đối. Nếu suy tim giai
đoạn có khả năng hồi phục (bù trừ) và khi cơ năng thận tốt th́ hạn chế muối
tương đối.
- Trong huyết áp cao: phải hạn chế tuyệt đối nếu có
cơn kịch phát, hạn chế tương đối nếu bệnh nhân vẫn chịu được huyết áp mà
không có biến chứng nặng. Chú ư nếu huyết áp cao không rơ nguyên nhân và
không nhiều biến chứng tim thận th́ nhiều khi phải hạn chế tuyệt đối mới có
kết quả.
- Trong bệnh thận: hạn chế muối, nước, protein nếu
urê máu cao. Trong viêm thận cấp th́ hạn chế tuyệt đối hay tương đối tùy
thuộc vào bệnh nhân phù nhiều hay ít. Trong viêm thận măn th́ thể phù phải
hạn chế muối c̣n thộp huyết áp cao và urê cao th́ phối hợp hạn chế muối và
hạn chế protein. Trong hội chứng thận hư phải hạn chế muối kèm với tăng
protein.
- Trong xơ gan, kèm cổ chướng và phù th́ phải hạn chế
muối và tăng protein.
Đối với phụ nữ có thai 3-6 tuần
lễ cuối nên ăn nhạt để tránh cho tử cung khỏi phù và làm cho co bóp được
mạnh mẽ. Dùng trong các bệnh cần hạn chế nước bởi v́ nếu có muối lập tức cơ
thể
sẽ giữ nước lại.
d) Chống chỉ định:
Hạn chế muối không cần thiết trong:
Bệnh béo ph́: v́ nó không làm cơ thể bớt mỡ đi được
nếu không hạn chế các thức ăn khác.
- Hội chứng tầng urê máu do thiếu muối Nacl trong các
trường hợp ỉa chảy nhiều và nôn mửa nhiều.
Viêm dạ dày, tăng bài tiết HCL trong địch vị: v́ nếu
hạn chế muối không làm giảm bài tiết HCL được.
- Bệnh tim, thận dùng thuốc lợi tiểu bằng thuốc có
thủy ngán, cơ thể mất nhiều muối v́ đái nhiều và có thể gây ra urê máu tăng.
CHẾ ĐỘ ĂN TĂNG Và GIảM PROTEIN
I. GIẢM PROTEIN
B́nh thường chế độ
ăn có 1g protein cho lkg thể trọng. Chế độ ăn giảm protein nghĩa là dưới 1g
cho lkg thể trọng.
1. Phân loại.
- Giảm ít: 0,8-0,9g/kg tức là
40-50g/50kg. Thức ăn gồm: Trứng+ sữa+ ngũ cốc, rau quả. Không dùng thịt, cá.
Giảm trung b́nh: 0,6-0,8g/kg tức là 30-40g/50kg. Thức
ăn gồm: Ngũ cốc, khoai, rau quả (c̣n gọi là chế độ án chay), nếu có thịt,
cá, trứng th́ rất ít.
- Giảm nhiều: 0,4- 0,5g/kg tức là 20-25g/50kg. Chế độ
này chỉ dùng được trong vài tuần v́ nó dưới mức tối thiểu của lư thuyết ni
tơ (Mức tối thiểu ni tơ 4-5g/24h tức là 25-30g protein). Thức ăn gồm: cơm,
quả, đường (Chế độ ăn của Kempner )
Hoặc bỏ hẳn protein: Chế độ ăn Borat-bull chỉ có dầu
hoặc bơ, đường. (thí dụ: dầu long, đường 200g - Dùng đường saccaroza hoặc
glucoza).
2. Chỉ định.
a) Chỉ định khi cơ thể không bài tiết được các
chất đào thải của sự chuyển hóa protein như:
Viêm thận cấp: khi urê máu cao, vô niệu có thể dùng
chế độ <l0g protein/ngày hoặc 0g protein/ngày.
Viêm thận mạn: Có
URÊ huyết cao dùng chế độ ăn giảm nhiều hoặc trung b́nh tùy theo số urê bài
TIẾT TRONG NƯỚC TIỂU/ 24 GIỜ NHIỀU HAY ÍT. SỐ
protein của chế độ ăn = số urê
niệu / 24 giờ x 3.
- Xơ cứng. động mạch, huyết áp cao: Bệnh này thường
thận bài tiết kém và urê máu cao nên hạn chế protein.
- Suy tim có tổn thương ở thận .
b) Chỉ định hạn chế protein khi protein trở thành
chất độc v́ nó không chuyển hóa được tốt hoặc không sử dụng được tốt.
Muốn protein được sử dụng tốt
cần phải dùng phối hợp với các thức ăn khác mang lại nhiều cáo (lipit,
GLUXIT). SỐ
calo do protein không nên quá 20%. Như
vậy một chế độ ăn có:
- 100g protein phải có > 2000 Kcalo
- 120g protein phải có > 2400 Kcalo
- 150g protein phải có > 3000 Kcalo
Như vậy chế độ ăn nhiều protein phải có 2 điều kiện
là nhiều protein động vật và nhiều calo.
2. Chỉ định trong các bệnh.
a) Xơ gan: 1,5- 2 - 2,5g/kg. Phối hợp với
giảm lipit, chế độ ăn có công hiệu nhất trong giai đoạn gan to. Nếu có cổ
chướng và phù nhiều th́ ăn tăng protein phối hợp với giảm muối.
b) Viêm gan: giai đoạn đỡ và hồi phục hoặc thể mạn.
c) Hội chứng thận hư: Dùng khi thận bài tiết urê tốt.
Nếu bệnh nhân có phù th́ phải kết hợp với chế độ ăn giảm muối.
d) Thiếu máu: Nhất là trường hợp thiếu máu do thiếu
huyết sắc tố.
e) Bệnh nhiễm khuẩn mạn tính: lao, ung thư gan, suy
dinh dưỡng.
g) Ngoại khoa: Trước và sau khi phẫu thuật, bỏng
nặng, gầy xương.
h) Sản khoa: Phụ nữ có thai-
không mắc bệnh thận.
3.Chống chỉ định.
a) Suy thận có urê máu cao
Hội chứng urê máu cao ở
TẤT cả các loại.
CHẾ ĐỘ ĂN
HẠN CHế LIPIT
1. Đặc điểm của Lipit.
- Sinh năng lượng gấp đôi protein hoặc gluxit:
1g lipit sinh ra 9 Kcal
1g protein sinh ra 4 Kcal
-
CÓ KHẢ NĂNG DỰ TRỮ Ở
các tố chức của cơ thể khi chế độ ăn thừa
lipit.
- Gây co túi mật để tống mật ra ngoài, Gluxit không có
vai tṛ này c̣n protein rất ít vai tṛ này.
2. Chỉ định.
- Bệnh béo ph́: Bệnh béo ph́ có thể không do nguyên
nhân ăn quá nhiều nhưng việc điều trị không thể không hạn chế số lượng của khẩu
phần. Khẩu phần ăn phải giảm calo bằng cách giảm mỡ, đường. Do vậy có thể lượng
calo sẽ giảm xuống dưới 1500kcalo/24h, v́ thế cho nên phải tăng lượng protein và
rau trong khẩu phần ăn. .
- Bệnh của túi mật: Viêm túi mật, sỏi mật do
cholesterol đắng đọng.ăn chất béo sẽ gây co bóp túi mật. Bệnh nhân đau, do vậy
nên ăn nhiều gluxit v́ gluxit không làm cho túi mật co bóp. Tùy theo từng thực
phẩm và cách chế biến khác nhau mà phản ứng của cơ thể khác nhau, đối với thực
phẩm rán, xào cơ thể phản ứng nhiều hơn. Sữa tươi, dầu thực vật nếu dùng đơn
thuần dễ chịu cho bệnh nhân hơn.
Nếu bệnh nhân bị tắc mật trong túi mật v́ túi mật giảm
khả năng co bóp do vậy có thể dùng chất béo làm túi mật co bóp tốt hơn: Buổi
sáng cho bệnh nhân ăn trứng, kem sữa hoặc uống dầu thực vật có tác dụng tống mật
ra khỏi túi mật.
- Bệnh xơ mỡ động mạch: Là T̀NH
TRẠNG H̀NH THÀNH MỘT MẢNG LIPIT Ở dưới nội mạc
mạch máu Thành phần của nó gồm cholesterol và những este của cholesterol và một
ít photpholipit. Phần lớn mỡ động vật (mỡ lợn, ḅ, cừu...) chứa nhiều axit béo
băo ḥa làm tăng cholesterol trong máu. C̣n các dầu thực vật (dầu đỗ tương,
ngô...) chứa nhiều a.xịt béo không băo ḥa làm hạ cholesterol trong máu. Cho nên trong bệnh này
nên hạn chế các loạt mỡ động vật.
CHế Độ ĂN BằNG ốNG THÔNG
1. Chỉ định.
Cho bệnh nhân ăn bằng cách truyền thức ăn bằng ống
thông qua mũi trong các trường hợp: Mất trí, mắc bệnh thần kinh, uốn ván, viêm
màng năo, liệt họng v́ bạch hầu, suy nhược sau mổ cắt dạ dày, sau phẫu thuật
quan trọng, bỏng nặng, hôn mê, chán án (trong trường hợp bệnh nhân chán ăn
khuyên b ệnh nhân nhiều lần nên ăn uống b́nh thường).
2. Cách truyền
Dùng ống thông dài khoảng 1m, đường kính của ống thông
khoảng 1,2- 1,5mm.
Bôi glyxerin hoặc vaselin rồi cho vào mũi bệnh nhân tới
dạ dày. Muốn tránh cho bệnh nhân khỏi nôn th́ đồng thời cho bệnh nhân hút một ít
nước bằng 1 ống nhỏ ngậm vào mồm. Cho ống thông vào mũi rất từ từ-khi tới họng
th́. bảo bệnh nhân nuốt đồng thời ấn ống thông xuống.
3. Cách cho ăn.
Cho bệnh nhân ăn nhỏ giọt liên
tục như tiêm truyền tĩnh mạch 60 giọt/1phút hoặc cho ăn 3-4 lần/1 ngày. Hoặc có
thể lấy bơm tiêm bơm dung dịch qua ống thông mỗi lần 300-400ml. Ngày bơm 5-6
lần. Sau khi cho ăn cần bơn lột ít nước qua ống thông để rửa khỏi tắc ống.
- CỐ
định ống thông.
4. Thời gian và số lượng dùng.
Cho ăn trong 7-15 ngày, có thể ăn lâu hơn nhưng phải
thay ống thông 1-2 lần/1tháng.
- SỐ
lượng tùy theo từng bệnh mà cho ăn
từ 500-2000 Kcal/ngày.
- Cho ăn tăng dần (bắt đầu
500 Kcal và 30g protein, sau đó mỗi ngày cho ăn thêm 250-500 cao cho đến khi
được 2000 Kcal).
5. Tai biến.
Đau bụng, đầy hơi, la lỏng nhất ỉa khi bắt đầu cho ăn
nhanh quá, chỉ cần bớt số lượng ăn, thay hỗn hợp thức ăn hoặc thời gian cho ăn.
Hội chứng Dumping: thường xảy ra đối với bệnh nhân cắt dạ dày.
Sau khi ăn bị mệt, nhức đầu, toát mồ hồi, run bắp cơ.
Do thức án thoát khỏi dạ dày 'nhanh quá hoặc dạ dày bị giăn hoặc thức ăn đặc. Do
vậy không nên dùng hỗn hợp có > 1kcal/1ml.
- Bệnh nhân nôn mửa không chịu được ống thông.
Mục lục
YKHOANET - Website Y Khoa Việt Nam
|