DINH DƯỠNG VÀ AN TOÀN THỰC PHẨM
CHƯƠNG XIV: CHẾ ĐỘ ĐIỀU TRỊ TRONG
MỘTSỐ BỆNH
Chế độ ăn trong bệnh suy dinh
dưỡng protein- nămg lượng
Thiếu dinh dưỡng protein năng lượng là t́nh
trạng bệnh lí xảy ra khi chế độ ăn nghèo protein - năng lượng, thường kèm theo
tác động của nhiễm khuẩn và ngược lại thường tạo điều kiện gây nhiễm khuẩn làm
cho thiếu dinh dưỡng nặng thêm.
Chủ yếu bệnh gặp ở TRẺ EM, BỆNH NÀY CŨNG GẶP CẢ Ở
người lớn nhưng ít vế nhẹ hơn đó là v́ người trưởng thành
không cần protein để lớn vả năng lượng do protein trong chế độ ĂN CỦA HỌ ÍT KHI
XUỐNG DƯỚI 10%. THEO ƯỚC TÍNH CỦA
OMS có đến 500 triệu trẻ em bị suy
DINH DƯỠNG Ở CÁC nước đang phát triển gây nên
10 triệu trẻ em tử vong mỗi năm. Suy dinh dưỡng Ở Việt Nam là loại suy dinh dưỡng trường diễn, nghĩa là trẻ em thiếu cả
cân nặng và chiều cao.
Nguyên nhân của
SDD TH̀ rất đa dạng, theo hội nghị
Dinh dưỡng quốc tế nhận định có 2 nguyên nhân cơ bản: Sự nghèo khổ và thiếu kiến
thức. Từ những nguyên nhân cơ bản nây dẫn đến chưa đảm bảo an toàn thực phẩm ở
gia đ́nh, thiếu nước sạch và môi trường mất vệ sinh, do đó các bệnh nhiễm khuẩn
c̣n nhiều. Mặt khác, sự chăm sóc bà mẹ trẻ em của già đ́nh, y tế và của xă hội
chưa được tất ĐĂ GÓP PHẦN LÀM TỶ LỆ SDD Ở
trẻ em vẫn c̣n cao.
Theo FAO và OMS KHUYẾN CÁO VIỆC PH̉NG CHỐNG SDD
chỉ có hiệu quả nếu nhà nước nhận trách nhiệm và huy
động được các ngành và nhân dân cùng LÀM.
I. NGUY? NHÂN Và TRIệU CHứNG
1. Phân loại SDD
Dựa vào "điểm ngưỡng" của các
triệu chứng mà phân loại bằng nhân trắc, lâm sàng hay hóa sinh. Thực tế người ta
có thể phân loại mọi mức độ của
SDD HOẶC chia theo thể nặng của SDD.
a) Theo mọi mức độ của SDD.
+ THEO OMS:
- SDD
VỪA ( ĐỘ I ): KHI CÂN NẶNG / TUỔI TỪ -2 SD đến -3SD
- SDD NẶNG (ĐỘ II ): Khi cân nặng / tuổi từ
-3 SD ĐẾN -4SD
-
SDD RẤT NẶNG ( ĐỘ III ): KHI CÂN NẶNG /
tuổi từ dưới -4SD.
SD: Độ LỆCH CHUẨN SO VỚI QUẦN THỂ THAM KHẢO NCHS CỦA MỸ
(NCHS: NATIONAL CENTER FOR HEALTH STATISTIC). VIỆC SỬ DỤNG QUẦN THỂ NCHS được đề nghị sau khi nhận thấy trẻ em dưới 5 tuổi
nếu được nuôi dưỡng tốt th́ các đường phát triển tương tự nhau.
+ Theo Waterlow:
- THIẾU DD
thể gảy c̣m: CN/CC thấp so với chuẩn.
- THIẾU DD
thể c̣i cọc: CC/ tuổi thấp so với chuẩn.
- THIẾU DD
thể vừa c̣m vừa c̣i: Cả 2 chỉ tiêu trên đều thấp so với chuẩn.
- Theo thể nặng:
Dùng thang phân loại Wellcome để phân biệt giữa thể Marasmus và Kwashiorkor:
| Cân
nặng % so với chuẩn |
Phù |
| |
Có
|
Không |
|
80-60 |
Kwashiorkor |
Thiếu dinh dưỡng |
|
Dưới 60 |
Marasmus - Kwashiorkor |
Marasmus |
II. Lâm sàng
- Thể nhẹ biểu hiện thường nghèo nàn về lâm sàng, chẩn
đoán chủ yếu dựa vào kích thước nhân trác.
- Thể nặng có thể tóm tắt theo bảng dưới đây:
| Dấu
hiệu |
Marasmus |
Kwashiorkor |
|
Chậm lớn |
+ |
+ |
| Teo
cơ |
+ |
+ |
| Phù |
+ |
+ |
| Thờ
ơ, mệt mỏi |
+ |
+ |
| Dễ
bị kích thích |
+ |
+ |
|
Nhiễm khuẩn |
+ |
+ |
| Rối
loạn điện giải |
- |
+ |
|
Thiếu máu |
+ |
+ |
|
Albumin huyết thanh |
- |
+ |
| Gan
thoái hoá mỡ |
- |
+ |
|
Thân hạ nhiệt |
+ |
+ |
| Rối
loạn tiêu hoá |
+ |
+ |
|
Mảng sắc tố |
- |
+ |
| Tóc
biến đổi |
- |
+ |
III.
ĐIỀU TRỊ
A. Nguyên tắc chung:
+
Trẻ em có nhu cầu rất lớn về số
lượng cũng như chất lượng. Trẻ bị suy dinh dưỡng tuy rằng chức năng tiêu hóa của
chúng bị suy sụp nhiều song khả năng hấp thu của chúng vẫn c̣n. Số lượng calo
cho trẻ thường là 90-100kcal/kg thể trọng. Trong suy dinh dưỡng số calo cần dùng
lên tới 120-150 Kcal/kg thể tṛng hoặc hơn.
+ Khi tính nhu cầu
calo thường phải tính số calo theo tuổi đối với sự phát triển b́nh thường, không
tính số calo theo trọng lượng hiện có của đứa trẻ.
+ Trong trạng thái
nhu cầu th́ cao mà khả năng tiêu hóa th́ kém, trẻ hay có rối loạn tiêu hóa do
nhiều nguyên nhân nên cần phải t́m thức ăn nào phù hợp với khả năng tiêu hóa của
trẻ và có tác dụng trong dinh dưỡng của trẻ.
+ Nên phối hợp với
các phương pháp điều trị khác (truyền máu, truyền huyết tương...) và phải điều
trị bệnh đă gây ra suy dinh dưỡng.
B. Các chế độ ăn theo thể lâm sàng:
1. Các thể vừa và nhẹ.
Chỉ cần điều trị tại nhà bằng
cách hướng dẫn bà mẹ hoặc người nhà điều chỉnh lại chế độ ăn cho hợp lí và theo
dơi sự tăng cân của trẻ dựa vào biểu đồ phát triển. Nên cho thêm các thực phẩm
có đậm độ năng lượng cao như dầu, hạt có dầu, các thức ăn giàu protein động vật,
rau xanh, quả giàu vitamin
A và các vitamin khác cùng với muối
khoáng. Cần tiếp tục cho bú mẹ. Thể suy dinh dưỡng vừa có thể điều trị ngoại trú
tại các pḥng khám bệnh viện tỉnh, khu vực, trung tâm phục hồi dinh dưỡng, kết
hợp chế độ ăn với điều trị các
bệnh nhiễm khuẩn như ỉa chảy, sởi, viêm đường hô hấp.
2. Các thể nặng.
Dù có phù hay không đều phải coi là cấp cứu, nhất là
khi kèm theo ỉa chảy mất nước và nhiễm khuẩn. Quá tŕnh điều trị gồm các bước
sau:
a) Bồi phục nước và điện giải.
Trường hợp mất nước nhẹ và vừa khi khi bệnh nhân c̣n
uống được th́ dùng dung dịch Oresol 50-100ml/kg cân nặng trong ṿng 4-6 giờ, cho
uống ít một sau đó đánh giá lại t́nh trạng mất nước, nếu đỡ tiếp tục liều lượng
100ml/kg, nếu không đỡ tiếp tục cho 1 liều như ban đầu và theo dơi sát trong 3
giờ để có thái độ xử trí tiếp.
- Mất nước nặng (nôn nhiều, li b́, không uống được)
phải truyền 70ml/kg trong 3 giờ đầu dung dịch Ringer lactat hoặc dung
dịch Nacl 0,9%, glucoza 5%, Na bicacbonat 14%o với tỉ lệ 1:1:1. Sự theo dơi và
các bước xử trí tiếp theo cũng giống như trên, kh́ trẻ uống được th́ thay bằng
dung dịch uống.
b) Chế độ ăn.
Những trẻ mất nước đă được điều trị hoặc trẻ không bị
mất nước th́ cho ăn đường miệng với số lượng ít đậm độ pha loăng, ăn nhiều lần
cùng với bú mẹ. Loại thức ăn có đậm độ năng lượng cao 1 Kcal/1ml thức ăn.
Trong tuần lễ đầu cho ăn 150
ml/kg cân nặng, sau đó tăng lên 200 ml/kg. Những ngày đầu có thể pha loăng 1/2
lượng sửa với 1/2 lượng nước. Sau đó cho ăn đặc dần. Số bữa cũng giảm dần (chú ư cả bữa ban đêm).
Cho ăn bằng th́a, cốc (không cho bú chai). Khi
trẻ không chịu ăn th́ cho ăn qua xông hoặc nhỏ giọt dạ dày. Khi trẻ thèm ăn trở
lại nên cho ăn theo ư thích của trẻ những thức ăn phải đạt năng lượng cao, số
lượng không quá nhiều.
c) Chống nhiễm khuẩn:
Bằng kháng sinh đặc hiệu.
d) Điều trị bổ sung:
- Ka li: KCL 0,5 g/kg/ngày uống trong 2 tuần.
- Sắt: 60 mg/ngày uống trong 3 tháng.
- Axit folic: 100 nlcg/ngày trong 2 tháng.
- Vitamin A: Tổng liều 800.000 đv. Trẻ 12 tháng cho
liều gấp đôi.
c
) Săn sóc: Chú ư về ban đêm, tránh HẠ
ĐƯỜNG HUYẾT VÀ HẠ THÂN NHIỆT.
IV PH̉NG
BỆNH.
Chiến lược gồm:
1. Dinh dưỡng:
+ Săn sóc trẻ từ bào
thai bằng cách săn sóc bà mẹ.
+ Trẻ ra đời phải săn
sóc bà mẹ cho con bú.
+ ăn sam đúng, hợp
lí.
2. Pḥng các bệnh nhiễm khuẩn:
Tiêm chủng, pḥng bệnh ỉa chảy và viêm đường hô hấp trên.
3. Phát hiện và xử trí sớm suy dinh dưỡng.
4. Giáo dục dinh dưỡng cho các bà mẹ
về kiến thức nuôi con.
5. Tăng cường nguồn thực phẩm bổ sung cho bữa ăn:
Xây dựng hệ sinh thái VAC, chế biến một số thức ăn bổ sung đặc biệt khi có rối
loạn tiêu hóa (thường chế biến các loại bột có kêm bột mộng ngũ cốc để tăng đậm
độ năng lượng cho bữa ăn của trẻ, tăng hoạt động các men...).
CHế Độ ĂN CHO BệNH NHÂN ĐáI
ĐƯờNG
I.
ĐẠI CƯƠNG
Trên thế giới ước tính có
trên 300 triệu người bị bệnh đái đường.
Ở HOA KỲ CÓ 2-4% NGƯỜI BỊ ĐÁI ĐƯỜNG. Ở
Pháp có khoảng 150.000 người bị đái đường type I. Ở VIỆT NAM CHƯA CÓ SỐ LIỆU
CHÍNH XÁC. Ở
Hà nội có khoảng 0,5-1,4% (Lê Huy Liệu và
cộng sự 1990). Tuy gọi là đái đường nhưng không phải trường hợp nào có đường
trong nước tiểu cũng được gọi là bệnh đái đường.
CÓ
khi có đường trong nước tiểu v́
ngưỡng thận hạ thấp th́ cũng không gọi là bệnh đái dường.
Theo Tổ
CHỨC Y TẾ THẾ GIỚI TH̀ BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG ĐƯỢC KHẲNG ĐỊNH Ở
bất kỳ thời điểm nào trong ngày bệnh
nhân có :
- Glucoza trong máu tĩnh mạch > 10 mmol/1ít (180
mg/dl).
- Glucoza trong huyết tương 1 11,1 mmol/1ít (200
mg/dl).
Trong trường hợp nghi ngờ cần làm nghiệm pháp dung nạp
glucoza bằng đường uống để phát hiện.
Về nguyên nhân đái đường có 2 nhóm:
- Đái đường do tụy: Viêm tụy, sỏi
tụy, u ác tính di căn tụy, nhiễm sắt (hemochromatose) hay do nguyên nhân di
truyền, nguyên nhân tự miễn (có kháng nguyên
HLA DR3 HOẶC HLA DR4).
- Đái đường ngoài tụy: Cường vỏ thượng thận (Hội chứng
Cushing), cường giáp trạng, cường thùy trước tuyến yên. Sử dụng glucocorticoid
như prednisolone, sử dụng hypothiaxid.
Đái đường có 2 thể (type):
- Thể phụ thuộc Insulin (type I):
THƯỜNG GẶP Ở
người trẻ tuổi, gầy. Thể này có nhiều biến
chứng.
- Thể không phụ thuộc
Insulin (TYPE II): THƯỜNG GẶP Ở
những người tuổi trên 40, người béo. Thể
này ít có biến chứng.
Đái đường được chia làm 4 giai đoạn:
- Đái đường ẩn (tiền đái đường)
- Đái đường tiềm tàng.
- Đái đường sinh hóa.
- Đái đường lâm sàng.
Về điều trị th́ chế độ dinh dưỡng
là đặc biệt quan trọng; nhất là ở THỂ KHÔNG PHỤ THUỘC INSULIN VÀ Ở 3 GIAI
ĐOẠN ĐẦU. Ở 3 giai đoạn này, dù là thể phụ thuộc Insulin mà nếu chẩn đoán được
sớm th́ chỉ cần một chế độ ăn hợp lí là có thể kéo dài các giai ĐOẠN NÀY MÀ
KHÔNG PHẢI SỚM DÙNG INSULIN.
Ở
giai đoạn đái đường lâm sàng th́ các triệu
chứng biểu hiện rơ và lại nhiều biến chứng, có những biến chứng hiểm nghèo như
tắc mạch, suy thận. Bệnh nhân ăn nhiều, uống nhiều, đái nhiều, glucose máu cao,
glucose niệu cao, toan huyết nặng, nước tiểu có xê ton. Bệnh NHÂN CÓTHỂ SỚM ĐI
VÀO HÔN MÊ VÀ TỬ VONG.
Ở giai đoạn đái đường lâm sàng ở THỂ PHỤ THUỘC INSULIN hay không phụ thuộc Insulin th́
riêng chế độ dinh dưỡng không đủ để khống chế đường huyết mà phải điều trị tích
cực thêm bằng thuốc. Tuy nhiên nếu KHÔNG CÓ CHẾ ĐỘ DINH DƯỜNG HỢP LÍ Ở
giai đoạn này th́ riêng thuốc cũng không đủ chừa trị. Ví
dụ bệnh nhân đái đường nặng nhưng lại có urê máu cao do thận.
II.
NGUY? TẮC XÂY DựNG CHế Độ DINH DƯƠNG CHO BệNH NHÂN Đái ĐƯờNG, THế KHÔNG PHụ
THUộC INSULIN (TYPE II) Và TYPE I NHẹ
1. Đảm bảo đủ năng lượng
để giữ eân nặng b́nh thường. Đối với người béo cần giảm bớt năng lượng.
| Đối tượng |
KCal/c. nặng trung
b́nh |
KCal cho người 50 kg |
| Người béo cần sụt cân |
20 |
1000 |
| Bệnh nhân nội trú |
25 |
1250 |
| Người lao động nhẹ |
30 |
1500 |
| Người lao động trung b́nh |
35 |
1750 |
| Người lao động nặng |
40 |
2000 |
2. Đảm bảo tỷ lệ năng
lượng giữa protein, gluxit, lipit:
Protit: 15%; lipit: 50%;
gluxit: 35%
a) Gluxit: Nói chung trong bệnh đái đường cần phải hạn
chế gluxit xuống tới mức mà cơ thể bệnh nhân chịu đựng được. Người ta thấy rằng
cũng không nên giảm gluxit dưới mức 40% tổng.số năng lượng trong khẩu phần v́ sẽ
có biến chứng. Nếu đă phải hạn chế tới mức đó mà bệnh nhân vẫn có đường huyết
cao và đái đường th́ phải dùng Insulin rất thận trọng để tránh số lượng gluxit
thay đổi.
b. Protein: Nói chung cần tăng protein lên cao hơn
người b́nh thường để đáp ứng nhu cầu chuyển hóa của cơ thể và cung cấp thêm năng
lượng thay gluxit. Nhưng cũng không nên cho quá 20% tổng số năng lượng của khẩu
phần.
c Lipit: Lượng lipit cần để cung
cấp số năng lượng c̣n thiếu. Khi sử dụng lipit chú ư dùng nhiều axit BÉO CHƯA NO
V̀ CẦN HẠN CHẾ CHOLESTEROL Ở mức thấp
nhất.
3. Nên dùng thức ăn giàu
chất xơ v́ nó có tác dụng khống chế việc tăng glucoza, cholesterol, triglyxerit
SAU BỮA ĂN Ở
bệnh nhân đái đường thuộc type II.
4.Đủ vitamin đặc biệt
vitamin NHÓM B (BI, B2, PP
) để ngăn ngừa tạo thành thể cetonic. .
5. Phân chia khẩu phần thành nhiều bữa để
không gây tăng đường huyết sau khi ăn. Với bệnh nhân dùng Insulin, các bữa ăn
nên phù hợp với thời gian tác dụng tối đa của Insulin để đề pḥng hạ đường
HUYẾT.
III.
CÁCH DÙNG CáC LOạI THứC ĂN TRONG BệNH NHÂN ĐáI ĐƯờNG
1. Lương thực: Gạo, ḿ, ngô... phải hạn chế (Những thực phẩm
này đều có hàm lượng gluxit từ 70-80%). Khoai tây là thức ăn rất tốt cho bệnh
nhân đái đường (150g khoai tây chỉ có 21g gluxit), nên ăn luộc. Khoai lang có
nhiều gluxit hơn (28%).
2. Các loại rau: Rau
tươi bất cần cho bệnh nhân đái đường v́ nó chống lại toan, cung cấp nhiều
vitamin, muối khoáng, bệnh nhân có thể ăn nhiều và đỡ đói .Rau tươi có số lượng
gluxit rất thấp từ 3-6%: rau muống, rau diếp, cà chua (3% gluxit), bắp cải, xúp
lơ, cà, bầu, bí (5% gluxit), cà rốt, hành (10% gluxit). Luộc rau cũng như nước
luộc thịt là món ăn tốt: cho bệnh nhân đái đường.
3. Đậu đỗ:
tốt và nên DÙNG NHIỀU Ở
bệnh nhăn đái đường, một mặt cung cấp
protein eho bệnh nhân, mặt khác gluxit của đậu đỗ cũng dễ tiêu hóavà sử dụng
tốt.
4. Quả:
Rất tốt v́ mang LẠI NHIỀU VITAMIN, NHẤT LÀ VITAMIN
C và muối
khoáng. Quả chống lại được toan v́ nó có tính kiềm. Loại quả có nhiều gluxit th́
cần phải kiêng, tuy những gluxit của quả ít gây tăng đường hơn là các loại khác.
5. Đường mứt: Cấm dùng
dối với bệnh nhân đái đường.
6. Sữa: là thức ăn đầy
đu các chất dinh dưỡng, dễ tiêu, nhiều protein và các axit min cần thiết nên
dùng rất tốt cho bệnh nhân đái tháo đường.
Tuy nhiên khi dùng sữa phải tính toán cẩn thận v́ sữa
có 5% lactoza và giá trị sinh năng lượng của sữa lại thấp (67 Kcal/100ml, sữa
chua dùng tốt hơn sữa thường v́ một phần lactoza đă biến thành axit lactic.
7. Các loại thịt, cá, trứng:
Đối với bệnh nhân đái đường, lượng protein đung nhiều hơn người b́nh thường
nhưng gây toan và gây hôn mê. Thịt có hàm lượng protein cao do vậy không nên
dùng quá mức. Cá và gia cầm cũng vậy, cần nhớ rằng bệnh nhân đái đường hay có xơ
cứng động mạch và thận của họ rất yếu. Nên dùng thịt mỡ, cá và gia cầm béo v́
khi có nhiều mỡ th́ lượng protein sẽ ít đi. Nước luộc thịt dùng tốt v́ có ít
gluxit và lại có chất chiết mùi thơm, muối khoáng và vitamin. Trứng không có
nhiều gluxit do vậy trứng ỉa thức ăn tốt cho bệnh nhân, trứng có nhiều protein
và lipit có giá trị cao, trứng ít gây toan hơn thịt.
IV.
GIỚI THIỆU MộT Số THựC ĐƠN MẫU
| Giờ
ăn |
Thứ
hai+thứ năm |
Thứ
ba+sáu+CN |
Thứ
tư+thứ bẩy |
|
6h30 |
Sữa
đậu nành 200ml (đậu 25 g, đường 5 g) khoai tây luộc 200g |
Sữa chua 200ml
Khoai sọ 200g |
Khoai sọ 200 g
Sữa đậu nành 250 ml |
| 11h |
Cơm 200g (gạo 100g)
R. muống xào (rau 300g, dầu 10g)
Đậu phụ rán (đậu 200g, dầu 10g) |
Cơm
200g, giá đỗ xào (giá đỗ 300g, dầu 200 g) |
Cơm
200g, dưa chuột, cà chua trộn dầu (dưa chuột, cà chua 300g, dầu 10g, dấm
tỏi), thịt lơn rim 30g |
| 14h |
Sữa đậu nành 200ml
Đu đủ 200g |
Sữa đậu nành 200ml
Chuối 1 quả |
Sữa đậu nành 200ml
Dưa hấu 200g |
| 17h |
Cơm 200g Măng xào (măng 300g, dầu 20g)
Gan lợn áp chảo (gan 50g, dầu 50g) |
Cơm 200g Nộm rau (rau muống 300g, lạc vừng 30g, dấm, rau thơm)
Trứng rán (trứng 1 quả, dầu 10g) |
Cơm 200g
Đậu quả
xào (đậu 300g, dầu 20g)
Đậu phụ rán 100g |
| 20h |
Sữa
đậu nành 200ml |
Sữa
đậu nành 200ml |
Sữa
đậu nành 200ml |
Năng lượng do protein: 16% 55-60g
Lipit: 17% 45-50g
Gluxit: 57% 235-250g
Chất xơ: 30-35g
Năng lượng 1600-1700 Kcalo, trong đó:
+ Bữa sáng: 20% năng lượng khẩu phần
+ Bữa trưa: 40% năng lượng khẩu phần
+ Bữa tối: 40% năng lượng khẩu phần
CHế Độ ĂN TRONG BệNH TĂNG HUYếT áP
1. ĐạI Cương:
THEO OMS
nếu huyết áp động mạch tối đa trên 160 mmhg, huyết áp động mạch tối thiểu trên
95 mmhg được gọi là tăng huyết áp chính thức. Nếu huyết áp động mạch tối đa
140-160 mmhg và huyết áp động mạch tối thiểu 90-95 mmhg được gọi là tăng huyết
áp "giới hạn".
Bệnh này có liên quan tới sự phát
triển công nghiệp, đô thị và nhịp sống căng thẳng, bệnh cũng thường gặp ở CÁC NƯỚC PHÁT triển có mức sống cao, việc
tiêu thụ muối nhiều cũng là nguyên nhân quan trọng làm tăng huyết áp. Các yếu tố
tâm lí xă hội gây căng thẳng cũng tạo điều kiện cho tăng huyết áp phát triển.
Bệnh này cũng thường gặp ở CÁC GIA Đ̀NH CÓ HUYẾT ÁP CAO, Ở TRẺ EM VÀ
người trẻ tuổi phần lớn là tăng huyết áp thứ phát. Ở
NGƯỜI cao tuổi phần lớn là tăng
huyết áp nguyên phát.
Một chế độ ăn nhiều natri
sẽ gây tăng huyết áp. Trong điều kiện b́nh thường các hocmôn và thận cùng phối
hợp điều ḥa việc thải natri cho cân bằng với natri ăn vào.
Ứ NATRI chỉ xảy ra khi lượng natri
ăn vào nhiều quá khả năng điều chỉnh. Lúc đó hệ thống động mạch eo thể tăng nhậy
cảm hơn với Angiotensin II VÀ Noradrenalin. Tế bào cơ trơn tiểu động mạch ứ
natri sẽ ảnh hưởng đến độ thấm của canxi qua màng, do đó làm tăng khả năng co
thắt tiểu động mạch. Tăng huyết áp do ứ Na tri cũng eo thể có yếu tố di truyền.
Nhiều công tŕnh đă khẳng định chế độ ăn giàu ka li sẽ làm giảm huyết áp. Người
ta c̣n thấy canxi là ion đóng vai tṛ chỉ đạo trong kích thích co cơ trơn thanh mạch. Chế độ ăn nhiều mỡ làm tăng cholesterol trong
máu gây xơ vừa động mạch. Huyết áp tăng có thể có tác dụng đẩy nhanh quá tŕnh
xơ vừa động mạch, ngược lại vừa xơ động mạch lại gây tăng huyết áp, đặc biệt các
mảng vừa xơ làm tắc động mạch thận.
Ở
CÁC NƯỚC NGƯỜI DÂN QUEN ĂN nhiều rau quả,
ít mỡ th́ tỉ lệ tăng huyết áp cũng thấp hơn.
II. Nguyên tắc CHUNG XÂY DựNG CHế Độ ĂN
1 Năng lượng:
Hạn chế cao trong trường hợp béo quá mức và béo ph́. V́ bệnh huyết áp cao phần
nhiều mắc vào khoảng 40 tuổi, bởi vậy việc giữ thể trung b́nh thường rất quan
trọng. Một số người sau khi giảm cân th́ huyết áp cũng giảm theo. V́ vậy thực
đơn nên có năng lượng thấp. Nếu béo quá mà ít hoạt động th́ chỉ nên ăn 1200-1600
Kcal. Nếu là người hoạt động vừa phải th́ hạn chế ở mức 1800-2000 Kcal.
2. Lipit:
Giảm bớt lipit nhất là trường hợp béo trệ. Bởi v́ việc giảm năng lượng của những
bệnh nhân này th́ trước hết bằng cách giám lipit. Nhất là lipit động vật, những
thức ăn có cholesterol cần hạn chế (ví dụ như các loại phủ tạng, gan, óc, bầu
dục, ḷng đỏ trứng...). Không nên ăn quá 30g lipit/24giờ và nên dùng dầu thực
vật và các hạt có dầu.
3. Gluxit:
Giảm bớt để TRÁNH BÉO TRỆ. HẠN CHẾ Ở
mức 300-350g/ngày. Gluxit không có hại ǵ cho
bệnh huyết áp, nhưng nếu dùng nhiều th́ chế độ ăn sẽ có nhiều cao và sinh béo
trệ. Nên dùng các hạt ngũ cốc nguyên vẹn như gạo tẻ, gạo nếp, khoai củ.
4. Protein:
Có THỂ CHO bệnh nhân ăn với số lượng protein như
người b́nh thường (trừ trường hợp mắc thêm bệnh thận hoặc tim). Nên ăn nhiều
protein thực vật
5. Vitamin: ăn nhiều
rau xanh và trái cây để tăng nguồn ka li và vitamin đặc biệt là vitamin C, E,
b
-caroten.
6. Gia vị: Không nên
dùng các loại gia vị như ớt, hạt tiêu hay hút thuốc lá thuốc lào. Tránh dùng
rượu, cà phê, chè đặc v́ nó kích thích thần kinh.
7. Muối: Nên ăn giảm muối hơn b́nh thường (dưới 6g/ngày kể cả muối trong
thực phẩm). Tùy từng thể bệnh MÀ CÓ THỂ HẠN CHẾ MUỐI TUYỆT ĐỐI BĂNG HUYẾT ÁP Ở người trẻ tuổi mà
không t́m thấy nguyên nhân, tăng huyết áp có biến chứng tim và phù nhiều).
8. Nước: Lượng nước
dùng vừa phải, v́ dùng nhiều nước làm tuần hoàn máu bị rối loạn và gây ra biến
chứng. Không cần phải hạn chế trừ khi tim bị suy nhiều và phù nhiều.
- Gạo tẻ, gạo nếp, khoai tây, khoai lang, khoai sọ và
các loại đậu đỗ, lạc, vừng.
- Dầu cám, dầu vừng, dầu đậu tương, dầu ngô, dầu thực
vật khác trừ dầu dừa.
- Sữa đậu tương, sữa chua, sữa giảm béo.
- Các loại thịt ít mỡ.
- Các loại cá sông, ao hồ, cá biển, tôm cua, mực.
Trứng chỉ nên 1-2 quả/tuần.
Các loại rau: ngót, muống, cải các loại, bí, rau dền,
giá đỗ.
- Nên chế biến dạng hấp, luộc. Nếu muốn ăn rán nên luộc
chín bỏ nước rồi áp chảo vàng hai mặt.
- Uống nước chè xanh, hạt sen, lá vông, hoa ḥe, nước
nhân trần.
Các thức ăn không nên dùng:
Thịt nhiều mỡ, nước dùng thịt, cá béo.
Các loại phủ tạng: óc, tim, gan, thận, ḷng...
- Các thức ăn muối mặn như dưa, cà, hành kiệu muối mặn,
mắm cá, mắm .Đường mật, bánh mứt kẹo ( ăn ít ).
- Mỡ lợn, gà, cừu, ḅ.
- Nước chè đặc, cà phê, rượu, thuốc lá.
CHế Độ ĂN TRONG BệNH GAN MậT
I.ĐạI CƯƠNG
Gan là một tuyến lớn nhất của cơ thể, có nhiều chức
năng quan trọng như:
1. Chuyển hóa protein.
- Tổng hợp protein huyết tương.
- Khử amin của các axit amin
- Tạo thành urê.
2. Chuyển hóa
cacbonhydrat.
- Tổng hợp, dự trữ, giải phóng glycogen.
- Tổng hợp hepann.
3. Chuyển hóa lipit.
- Tổng hợp lipoprotein, phospholipit, cholesterol.
- Tạo thành mật
- Liên hợp các muối mật.
- Oxy hóa các axit béo.
4. Chuyển hóa chất khoáng.
- Dự trữ sắt, đồng và các chất khoáng khác.
5. Chuyển hóa vitamin
A và D.
- Chuyển hóa caroten thành
VITAMIN A, VITAMIN K
thành prothrombin.
8. Khử độc các sản phẩm phân giải, chất
khoáng, một số thuốc độc B1 Chất màu.
Tốn thương gan thường là thay đổi
tế bào nhu mô gan có thể ở DƯNG: TEO, XƠ HÓA, THÂM NHIỄM MỠ, HOẠI
TỬ.
II. NGuy? TắC CHUNG Về DINH DƯỡNG TRONG BệNH
GAN MậT
1 Bảo vệ tế bào nhu mô gan là điều phải quan
tâm hàng đầu trong các bệnh gan mật để bảo tồn chức năng gan. Do vậy cần một chế
độ ăn hợp lí về chất đủ về lượng.
2. Tăng protein quí, gia trị sinh
học cao, đủ các axit min cơ bản nhằm ngăn thâm nhiễm mỡ ở gan, thoải hóa tế bào
gan và tạo điều kiện tái tạo các mô.
3. Tăng dinh dưỡng
bằng Cacbonhydrat để đảm bảo kho dự trữ Glycogen cho đủ protein nhằm đảm bảo tác
dụng bảo vệ tổ chức gan. B́nh thường một phần gluxit của chế độ ăn được dự trừ
trong gan tưới h́nh thức glycogen. Chức năng chuyển hóa và dự trữ của glycogen
rất quan trọng v́ nó làm cho gan đảm nhiệm được vai tṛ giải độc. Khi gan bị tổn
thương th́ glycogen giảm đi. Do đó chế độ ăn phải có nhiều gluxit để gan tạo ra
được nhiều glycogen. Mặt khác nó c̣n bảo vệ cho gan khỏi bị thoái hóa mỡ.
4. Hạn chế mỡ và thức ăn
béo: Khi tế bào gan bị tổn thường th́ lập tức. bào tương của nó sinh ra NHỮNG
GIỌT MỠ CÓ THỂ LÀM HỦY HOẠI TẾ BÀO. ĐÓ
chính là hiện tượng thoái hóa mỡ của gan. Do đó chế độ ăn phải hạn chế chất béo.
5. Đủ vitamin, nhất là phức hợp nhóm B, Vitamin C, K...
6. ăn nhạt khi có phù và cổ chướng.
7. Trong hôn mê gan th́ dinh dưỡng chủ yếu là glucoza
và VITAMIN.
III. CHế Độ DINH DƯỡNG TRONG BệNH VI? GAN
Mục đích: Tạo điều kiện để tái tạo tổ chức gan và ngăn
ngừa thêm sự hủy hoại thêm của tế bào gan.
Tuy nhiên bệnh nhân bị bệnh gan thường là chán ăn, v́
vậy cần phải giải thích cho bệnh nhân hiểu rằng ăn là để điều trị, dinh dưỡng
tốt là để gan chóng hồi phục và ngăn ngừa tái phát, cần động viên để bệnh nhân
cố gắng ăn. Mặt khác chế biến thức ăn cho dễ tiêu và hợp khẩu vị của bản thân
người bệnh.
1. Giai đoạn cấp tính:
Tuy gan bị tổn thương nhưng gan vẫn phải làm việc cho nên điều trị phái nhằm mục
dịch làm giám bớt gánh nặng cho gan trong quá tŕnh chuyển hóa. Do vậy trong
giai đoạn đầu cần cho bệnh nhân ăn thức ăn lỏng hoặc mềm như:
- Nước cháo, bột đậu nành, bột sắn.
-
CÓ
thể kết hợp truyền glucoza ưu trương 30%,
40%. Cứ 5g glucoza th́ bổ sung 1 đơn vị Insulin.
Nước quả pha đường, chuối nghiền, đu đủ, hồng xiêm
nghiền sau đó tăng dần thức ăn đặc.
- Cháo thịt hẩm.
- Khoai tây nghiền.
- Bánh ḿ, bánh qui ăn với sứa loăng.
Cần cho ăn nhiều bữa, các bứa phụ dùng chất ăn lỏng
giàu đạm, ít mỡ như sữa tách bơ, sữa đậu nành. Năng lượng cố gắng đạt
1200-1600kcal/ngày.
Như vậy trong giai đoạn cấp tính dùng chế độ ăn có bột
ngũ cốc, sứa, hoa quả và rau củ, có khá nhiều cao và nhất là gluxit giúp cho gan
tổng hợp được glycogen. Cần động viên bệnh nhân án.
2. Sau giai đoạn cấp tính: Bệnh tiến triển tới giai
đoạn hồi sức, lúc này cần nhu cầu cho người bệnh nặng 50kg là: .
- Protein: 1,5-2,0g/kg thể trọng,
nên dùng cốc loại thịt: Thịt ḅ, sưza, phomát, thịt lợn nạc, gan gà, cá, sữa đậu
nành (có nhiều methionin).
- Gluxit: 4-5g/kg thề trọng, nên dùng cơm, khoai tây,
khoai lang, bánh ngọt, rau quả tươi.
- Lipit: 0,5g/kg thể trọng.
- Năng lượng: 1700-2000 Kcal/ngày.
- Vitamin: Vitamin nhóm
B là cần nhất, kèm theo vitamin C, K, PP,
E, A, D.
- Muối khoáng: ăn nhạt nếu cớ phù hoặc cổ chướng.
- Lipit: Không kiêng hẳn mỡ nhưng dùng ít chủ yếu là
axit béo chưa no (ít nhất là 15g lípit/ngày), không nên dùng mỡ lợn, mỡ cừu, mỡ
ḅ, bơ mà nên dùng các loại dầu thực vật.
Kiêng hẳn mỡ chỉ đúng với đề
pḥng nhiễm mỡ gan. Tuy nhiên lipit vẫn dùng trong bệnh gan v́ lipit là chất vận
chuyển các vitamin tan trong mỡ như A, D, E, K, đặc biệt vitamin
K cần cho chuyển hóa khi gan bị bệnh và
bệnh nhân không ăn được. Mặt khác axit béo chưa no mà cơ thể lại không tổng hợp
được nên phải đưa vào (Axit béo chưa no có vai tṛ điều ḥa tính thấm qua màng thông qua photpho lipit)) nó tạo prostaglandin
C thông qua axit arachidonic.
Góp phần điều chỉnh huyết áp, điều ḥa hoạt
động thần kinh nội tiết, kích thích cơ trơn, ức chế tạo axit.
CHế Độ ĂN TRONG BệNH XƠ GAN
I.
ĐẠI CƯƠNG
XƠ
gan là một trạng thái bệnh lư hậu quả của nhiều nguyên
NHÂN TRONG ĐÓ ĐÁNG KỂ LÀ VIÊM GAN MĂN. TỔ
chức gan bị xơ hóa không hồi phục kèm theo
những nốt tổ chức gan tái tạo là h́nh ảnh điển h́nh của xơ gan.
Các điều tra dịch tể học
trên thế giới đều kết luận tỉ lệ xơ gan tăng song song với tỉ lệ sử dụng rượu.
Rượu là 1 độc chất đối với gan, gây tổn thương tế bào gan, rối loạn chức năng
gan, rượu gây rối loạn chuyển hóa
Ở gan, gây tăng axit lactic, axit uric, giảm đường huyết.
Chuyển hóa của rượu gây tăng Axetaldehyt trong máu và trong tế bào gan, rồi
TƯƠNG TÁC VỚI PROTEIN, LIPIT Ở
màng tế bào gan gây biến đổi cấu trúc chức năng rồi hủy hoại tế bào gan
II.
NGUY? TẮC DINH DƯƠNG Ở BệNH NHÂN XƠ GAN
Năng lượng cao duy tŕ bằng gluxit, đủ protein tối
thiểu, ít béo.
1 Protein: Chỉ nên duy
tŕ đủ để cân bằng ni tơ. Nếu thiều quá dẫn đến hôn mê gan, ít quá sẽ dẫn đến
mất cân bằng ni tơ. Protein 0,6-0,7g/kg/ngày.
2. Lipit:
Hạn chế ở MỨC
10g/ngày và cần cho dùng Triglyxerit loại chuỗi, vừa để
giảm đại tiện phân mỡ cho rối loạn ở bệnh nhân xơ gan.
3. Gluxit:
300-400g/ngày, cần tăng nguồn này để cơ thể khỏi dùng protein tạo năng lượng.
4 Vitamin và khoáng:
Đủ vitamin v́ ở
BỆNH NHÂN XƠ GAN VIỆC HẤP THU CÁC VITAMIN NHÓM B
và vitamin tan trong mỡ (A, D, E, K) đều
giảm. ăn nhạt nếu có phù và cổ chướng. Nước: ít hơn lượng nước tiểu bài tiết ra
trong ngày nếu có phù và cổ chướng
nặng .
5. Chất xơ:
Không cho bệnh nhân ăn thức ăn nhiều xơ mà dùng thức ăn mềm để đề pḥng vỡ phồng
tĩnh mạch thực quản.
III.
CÁCH CHẾ BIếN
Nên ăn dưới dạng chế biến nhừ, nghiền nhỏ,
bột.
1. Các thức ăn nên dùng:
- Thịt nạc các loại.
- Sữa tách bơ.
- Các loại bột, miến dong, bánh phở...
- Đường, đường glucoza.
- Dầu thực vật 10g/ngày.
- Quả ngọt dạng nghiền hoặc nước quả.
- Viên Moriamin- sinh tố.
2. Các thức ăn không nên dùng:
- Mỡ, thịt, cá nhiều mỡ.
- ít dùng trứng( 2 quả tuần).
- Bơ, sữa ḅ chưa tách bơ.
- Phủ tạng (tim, gan, thận...).
- THỨC ĂN MẶN.
CHế Độ ĂN TRONG BệNH LOéT Dạ
DàY Tá TRàNG
Loét dạ dày tá tràng là
thuật ngữ để chỉ chung t́nh trạng bệnh lí có ổ loét ở
DẠ DÀY HOẶC Ở TÁ tràng hoặc cả hai vị trí. Biểu hiện bệnh trên lâm sàng bằng
những cơn đau Ở VÙNG thượng vị, xuất hiện từ 2-3 giờ hoặc 4-5 giờ sau khi ăn và
kéo dài trong 2-3 giờ liền. Cơn đau có từng đợt 15-20 ngày hoặc dài hơn nữa rồi
dịu dần và biến mất trong một thời gian khá dài (2-3 tháng hoặc 5-6 tháng) để
rồi lại TÁI DIỄN VỚI MỨC ĐỘ NẶNG HƠN.
I. CHẾ ĐỘ ĂN ĐỀ PH̉NG VÀ
CHữA BệNH
1. Nguyên tắc:
1. 1 Cần dùng các thức ăn mềm có khả năng bao bọc che
chở niêm mạc dạ dày và thích hợp với từng người.
Không nên ăn các thức ăn quá nóng
hoặc quá lạnh. Thức ăn quá lạnh làm co bóp mạnh cơ dạ dày, thức ăn nóng cũng làm
cho niêm mạc dạ dày xung huyết và co bóp mạnh hơn. Thức ăn Ở
40-50OC DỄ TIÊU HÓA VÀ DỄ HẤP THU HƠN Ở
nhiệt độ b́nh thường.
1.2. Chống tăng tiết dịch vị và HCL:
- Không để bụng đói.
- Không ăn quá no.
- Không ăn nước luộc, nước hầm thịt nguyên chất, những
thức ăn có nhiều mùi vị thơm như thịt quay, thịt muối, cá muối.
- Không uống rượu, bia, cà phê, chè đặc.
- Không hút thuốc lá, không ăn chất cay, thức ăn, đồ
uống quá chua.
- Sinh hoạt thoải mái, làm việc vừa sức, điều độ, tránh
căng thẳng tinh thần (stress).
1.3. Các thức ăn nên dùng:
- Cơm, xôi, bánh nếp, bánh tẻ, bột ḿ, bột gạo, ḿ sợi,
bánh ḿ.
- Đường, bánh ngọt, mứt, kẹo, mật ong, bánh qui.
- Dầu thực vật, bơ, mỡ (Nếu không eo huyết áp cao,
cholesterol máu cao).
- Các loại sữa và sữa đậu nành.
- Thịt, cá, trứng, đậu phụ.
- Các loại chè: Chè đỗ xanh, chè đậu đen, chè bột sắn.
1.4. Nên có các bữa ăn phụ:
V́ người bệnh không ăn được nhiều
một lúc như những người không bị bệnh nên phải cho người bệnh ăn thêm một số bữa
ăn phụ vào lúc 10giờ, 15giờ, 21giờ. Các bữa này nên ăn bánh qui, bánh nếp, bánh
tẻ hoặc 1 bát chè. Dựa vào những đặc tính kích thích của các loại thức ăn mà xây
dựng những chế độ ăn hạn chế xơ và các chất kích thích để bảo vệ dạ dày với
những mức độ
khác nhau như sau:
+ Chế độ hạn chế chặt
chẽ (chế độ ăn sữa):
Dùng sữa tươi pha hoặc không pha đường, sữa đặc hay sữa
bột. Sữa là thức ăn tốt cho bệnh loét dạ dày v́ tính chất lỏng, không có xơ,
trung ḥa được axit clohydric trong dịch vị. Chất béo của sữa (bơ) cũng làm giảm
bài tiết dịch vị, trái lại lactoza tránh cho nhu động ruột không bị giảm.
+ Chế độ hạn chế
trung b́nh:
Dùng sữa cộng thêm thức ăn nhẹ như thịt (thịt gà gị,
bê non), trứng, rau khoai, khoai tây, rau nghiền, rau muống lá non, xà lách non.
+ Chế độ ăn hạn chế
ít (Chế độ rộng răi): ăn được nhiều loại thức ăn, chỉ cấm những thực phẩm kích
thích mạnh như:
- Thịt nhiều mỡ (vịt, ngỗng)
- Các loại cá béo trộn với dầu dấm, cua, ốc.
- Trứng rán mỡ, trứng làm bánh kem.
- Các loại bánh rán có nhiều mỡ (bánh chuối tiêu...).
- Bắp cải hành, củ kiệu, củ cải.
- Quả ăn luôn vỏ (táo, ổi), quả khô.
- Rượu các loại, bia, chè đặc, cà phê.
- Gia vị: Dấm, ớt, hạt tiêu, tỏi.
2. Chế độ ăn cụ thể
2.1. Chế độ ăn khi có cơn đau:
Dùng chế độ hạn chế xơ và các chất kích thích chặt chẽ.
Sau khi đỡ đau th́ hạn chế trung b́nh (sữa ḅ, khoai rau nghiền, trứng). Không
được dùng nước luộc, thịt, cà phê.
2.2. Ngoài cơn đau:
Bệnh nhân không cảm thấy đau, các
thức ăn h́nh như không ảnh hưởng ǵ tới dạ dày. Do đó một số người chủ trương
không cần thiết bắt bệnh nhân phải ăn kiêng, hơn nữa bệnh nhân cũng không chịu
theo thầy thuốc mà ăn uống kiêng khem quá ngặt nghèo nữa. Nhưng chúng ta phải
giải thích cho bệnh nhân rơ là bệnh có thể chưa khỏi, có thể trở lại và bệnh chỉ
có thể khỏi hẳn nếu ta chú ư đến nó trong giai đoạn yên lặng. Do vậy phải có chế
độ nghỉ ngơi, sinh hoạt điều độ và bồi dường sức khỏe. Về chế dộ ăn ta khuyên
bệnh nhân nên dùng chế độ rộng răi. Tránh dùng thực phẩm có nhiều xơ, thực phẩm
kích thích, kiêng rượu, gia vị, nên ăn làm nhiều bứa trong ngày. Nên cho bệnh
NHÂN DÙNG NHIỀU VITAMIN NHẤT LÀ VITAMIN
C và B chế độ
ăn phái đáp ứng nhu cầu về năng lượng, protein, gluxit, lipit.
2.3. Khi có biến chứng chảy máu:
Không nên nhịn đói v́ nhịn đói không phải là biện pháp
tốt để dạ dày nghỉ, ngược lại nó làm bệnh nhân suy yếu thêm, dạ dày co bóp mạnh
chảy máu nhiều hơn. V́ thế cho bệnh nhân dùng chế độ sữa phối hợp. Sau đó tăng
dần thêm cháo, nước xúp thịt, khoai tây nghiền, trứng. Ngoài ra nếu chảy máu
nhiều cho truyền dung dịch đắng trương Nacl, glucoza.
CHế Độ ĂN TRONG BệNH VI? ĐạI
TRàNG
I.
VI? RUỘT CấP TíNH
Bệnh nhân đau bụng, đi lỏng nhiều lần trong
ngày. Nếu đi ngộ độc thức ăn có thể kèm theo nôn, cứ để đi ngoài hết thức ăn gây
ngộ độc bệnh sẽ đỡ, lúc này cho người bệnh uống nước chè ấm, cho thêm một th́a
cà phê đường, 1 lát gừng và 1 lát chanh, vài giờ sau cho ăn cháo gạo nấu nhừ và
một ít thịt lợn nạc băm nhỏ hoặc viên hấp, uống thêm nước trái quả xay nhuyễn
ngày uống 2-3 lần. Nếu đói cho ăn thêm bánh quy. Không ăn các loại nước dùng
nhiều mỡ, các thức ăn nguội chế biến sẵn như pa te, DĂM BÔNG, XÚC XÍCH, CÁC LOẠI
ĐỒ HỘP.
II .VI? RUỘT MẠN
TÍNH:
Trong những đợt cấp của viêm ruột mạn tính áp
dụng chế độ ăn như trên. Sau vài ngày khi phân trở lại b́nh thường, đau bụng
giảm nhiều có thể ăn mềm rồi ăn cơm như b́nh thường.
Các loại sữa nếu uống bị đau
bụng, sinh hỡi nhiều, nên pha sữa với một ít nước chè, chưa nên ăn các loại rau
sống, mà nên ăn các loại rau non nấu chín. Các loại canh khoai như khoai tây,
khoai sọ, bí xanh, bí đỏ, cà rốt nên ăn v́ các loại rau quả này chứa nhiều
pectin có tác dụng điều ḥa nhu động ruột. Thịt cá cũng nên nấu chín kỹ hoặc băm
nhỏ, không nên ăn tái hoặc rán ṛn. Các loại quả chín như đu đủ chín, chuối
chín, hồng xiêm, mắc cọp ăn rất tốt v́ cung cấp THÊM MUỐI KA LI VÀ VITAMIN
C
làm cho người bệnh đỡ mệt.
III. CHẾ ĐỘ ĂN TRONG BỆNH
TÁO BÓN
Ở người lớn có một tỉ lệ
đáng kể bị táo bón 3-4-5 ngày mới đi ngoài 1 lần, đặc biệt là về mùa hè, điều
này rất có hại v́ các chất thải độc đối với cơ thể bị ứ trệ sinh cáu gắt, khó
chịu, bực bội.
Nguyên nhân sinh bệnh là
do các cơ thành ruột yếu nên sức co bóp không đủ mạnh để tống phân ra ngoài.
Loại nảy hay gặp nhiều. Chế độ ăn gồm nhiều quả tươi như cam, táo, rau tươi (bắp
cải, rau muống, cà chua, hành, cà rốt), đậu hạt khô, gạo c̣n khá nhiều cám. Tuy
nhiên không nên dùng chất xenluloza nhiều quá v́ các chất này TỤ LÂU Ở
manh tràng và sẽ lên men làm cho ruột bị giăn ra. Trong trường hợp bệnh nhân
bị viêm đại tràng gây táo bón th́ chế độ ăn cần loại bỏ các chất xơ và dùng thức
ăn cung cấp nhiều chất dinh dưỡng và vitamin. Thức ăn nên dùng là: khoai nghiền,
trứng, cá luộc, sữa, dầu thực vật, gạo trắng, mật ong, nước trái cây (cam, cà
chua). Thức ăn cần kiêng là rau trái có xơ cứng, vỏ cứng, đậu hạt khô, thịt có
sụn.
CHế Độ ĂN TRONG CáC BệNH NGOạI
KHOA
I.
VAI TR̉ CỦA DINH DƯỠNG TRONG CÁC BệNH NGOạI KHOA
+
Tăng thêm tỉ lệ thủ thuật có thể làm được: Trong một số bệnh như ung thư,
lao...làm bệnh nhân bị suy dinh dưỡng không chịu nổi phẫu thuật nhưng nếu dinh
dưỡng tốt th́ có thể mổ được.
+ Giảm bớt khó khăn
cho thủ thuật: ăn uống có thể làm giảm chướng hơi đối với bệnh nhân mổ mà bị
chướng hơi.
+ Làm vết thương
chóng lành.
+ Giảm bớt tỉ lệ tử
vong của thủ thuật: ăn uống tốt trước và sau phẫu thuật làm giảm tỉ lệ tử vong
của phẫu thuật.
II.
NGUY? TẮC CỦA DINH DƯỠNG TRONG BỆNH NGOẠI
KHOA:
- ăn uống trước khi phẫu thuật: Tăng cường
chất dinh dưỡng cho bệnh nhân chịu được phẫu thuật.
A.
ĂN UỐNG TRƯỚC KHI PHẪ U THUẬT:
1. Nguyên tắc chung
- Nhiều protein (đây là nguyên tắc quan trọng nhất), v́
bệnh ngoại khoa làm cho cơ thể mất nhiều protein: chảy máu, vết thương, viêm,
bỏng nặng. Nhiều gluxit: Để gan tích trớ được nhiều glycogen và bảo vệ nó khỏi
bị tổn thương v́ thuốc mê - Phải cần một thời gian để dần nâng cao được t́nh
trạng dinh dưỡng trên
một bệnh nhân đă bị suy nhược nhiều, ít nhất là 1
tháng.
2. Trong một số bệnh đặc biệt.
+
Béo ph́: bệnh nhân thường bị tim,
gan và phận yếu. Phẫu thuật khó v́ lớp mỡ ở bụng quá dày, mổ ra vết thương khó liền.
V́ vậy đối với bệnh nhân này trước khi mổ phải cho một chế độ ăn điều tŕ bệnh
béo ph́.
+ Bệnh đái đường:
Phẫu thuật những trường hợp này rất hay có biến chứng, nên trước khi phẫu thuật
phải cho chế độ ăn chống bệnh đái đường để giảm glucoza trong máu và t́nh trạng
toan. -
+ Bệnh suy dinh dường
(ung thư, hội chứng nhiễm độc): Cần phải ăn chế độ bồi dưỡng cao.
+ Trong một số trường
hợp đặc biệt: Xuất huyết cần nhiều sắt, vết thương mưng mủ, nhiễm mủ huyết...,
cần nhiều protein, bệnh nhân dùng nhiều kháng sinh cần nhiều vitamink, vitamin
nhóm B
B.
ĂN UỐNG TRONG THỜI GIAN CHUẨN BỊ TR UỚC PHẪ U THUẬ
ĩ:
Nhiều người bắt bệnh nhân nhịn ăn 24 giờ trước khi phẫu
thuật. Nhưng về mặt sinh lí th́ thấy nhịn ăn 24 giờ là không cần thiết. Cần chú
ư những điểm sau:
- Ngày hôm trước phẫu thuật: nên cho ăn nhẹ để không
làm mệt bộ máy tiêu hóa. Bữa chiều ít hơn bữa sáng. Chế độ ăn không có bă.
- Sáng hôm phẫu thuật: Chỉ cho bệnh nhân uống nước
đường, nước lọc v́ khi mổ, chức năng tiêu hóa bị mất tạm thời, dạ dày CÓ THỨC ĂN
CHỈ CÓ HẠI KHÔNG CÓ LỢI.
C. ĂN UỐNG SAU KHI MỔ:
khi mổ bệnh nhân có một số rối loạn mà ta gọi là bệnh phẫu thuật.
- Giai đoạn đầu (2-3 ngày đầu): Giai đoạn dị
hóa. Tăng nhiệt độ cơ thể, liệt cơ dẫn đến chướng hơi, bệnh nhân mệt lả. Chuyển
hóa mất rất nhiều ni tơ do vậy cân bằng ni tơ âm tính. Bài tiết nhiều kali (có
thể v́ vậy mà ruột bị liệt dẫn đến chướng hơi).
- Giai đoạn giữa: Nhu động ruột
trở lại, từ ngày thứ 3-4 trở đi hơi có thể thoát ra khỏi ruột. Trung b́nh ngày
thứ 5 bệnh nhân có thể đại tiện được. Bệnh nhân tỉnh táo hơn, biết đói nhưng vẫn
chán ăn. Bài tiết ni tơ giảm đi, cân bằng trở lại b́nh thường. Sự bài tiết kali
giảm đi. Giai đoạn này bệnh
nhân rất cần được ăn uống đầy đủ.
- Giai đoạn hồi phục: Đại tiểu tiện b́nh
thường, bệnh nhân biết đói, vết thương đă lành, bệnh nhân lên cân. Bài tiết
kali trở lại b́nh thường.
III.  CHẾ ĐỘ ĂN
UỐNG:
1. Giai đoạn đầu:
Chủ yếu bù nước và điện giải, cần cung cấp
gluxit theo nhu cầu để có số cao tối thiểu làm giảm sự giáng hóa protein. Nhu
cầu này thỏa măn bởi tiêm tĩnh mạch hỗn hợp các loại:
- Glucoza 5%, Glucoza 30%, Nacl
9%o, KCL 1 hoặc 2 ống. Cho uống rất ít, nếu bệnh nhân chướng bụng th́ không NÊN
UỐNG. NẾU BỆNH NHÂN MỔ Ở
ngoài hệ tiêu hóa cho uống ít một (50ml
cách nhau giờ) nước đường, nước luộc rau, nước quả (nước cam dùng ít v́ có thể
làm tăng thêm
chướng). Có THỂ truyền plasma, máu.
Xét nghiệm: tỉ lệ kali, dự trừ kiềm, Nacl, ni tơ trong
máu để dùng các loại nước thuốc thích hợp.
2. Giai đoạn giữa (từ
ngày 3-5).
- Cho ăn dần dần và thôi dần tiêm truyền tĩnh mạch.
- Tăng thêm dần năng lượng và protein (Bắt đầu 500 kcal
và 30g protein, sau đó 1-2 ngày một lại cho thêm 250-500 Kcalo cho đến 2000
Kalo/ngày).
- Sữa: nên dùng dưới dạng sữa pha nước cháo vả nên dùng
sữa bột rút kem, sữa đậu nành. Cho ăn làm nhiều bữa nhỏ (4-5 bữa). Động viên cho
bệnh nhân cố gắng ăn giai đoạn này nhưng không thể cho ăn trở lại vội vàng quá
có thể gây ỉa chảy.
- Dùng nước ép thịt nạc trong những trường hợp không
dùng được sữa.
- ăn nhiều thức ăn có nhiều
VITAMIN B, C, PP
(cho uống nước chanh, cam).
- Hạn chế ăn những thức ăn có nhiều chất xơ.
3. Giai đoạn hồi phục:
Chế độ ăn phải đầy đủ protein và
cao để làm cho thể trọng tăng nhanh và vết thương chóng lành. Chế độ ăn trong
giai đoạn này là chế độ ăn bồi dưỡng. Đó là chế độ ăn nhiều protein và tăng Calo.
Protein có thể tới 120-150g/ngày và năng lượng có thể từ 2500-3000 Kcal/ngày, ăn
nhiều bữa trong một ngày.
- Dùng nhiều sữa, cá,
thịt, đậu đỗ và các loại hoa quả để tăng vitamin
C VÀ vitamin nhóm B.
Trường hợp bệnh nhân sau
khi MỔ CÓ BIẾN CHỨNG THƯỜNG GẶP Ở
những bệnh nhân suy dinh
dưỡng trước khi mổ, nuôi dưỡng trong thời gian chuẩn bị mổ không được kĩ và bệnh
nặng.
a) Trong trường hợp ruột
thoát hơi chậm: Cần xem điện giải đồ xem có thiếu kali và bổ sung kali theo điện
giải đố: V́ một số trường hợp bệnh nhân trở nên rất tốt khi bổ sung kali nhưng
nếu tiêm quá mức kali th́ sẽ rất nguy hiểm (biến cố ở tim).
b) Trường hợp phải mổ lại:
- Trong trường hợp tắc ruột, ḍ ruột... cần nuôi dưỡng
bằng tĩnh mạch để dâng cao t́nh trạng dinh dưỡng trước khi mổ.
- Cung cấp gluxit bằng dung dịch glucoza 5% th́ tốt
nhưng mang lại ít Calo, có thể sử dụng dung dịch glucoza 10-15% hoặc 30% để tăng
lượng Calo lên nhưng có trở ngại là có thể làm viêm tắc tĩnh mạch.
- Lượng protein: Phải cung cấp tối thiểu để tránh sự
giáng hóa protein nội tạng nên cung cấp axit amin bằng cách tiêm truyền hỗn hợp
axit amin.
- Cung cấp nước và điện giải theo nhu cầu của bệnh nhân
và theo điện giải đồ.
- Tiêm truyền tĩnh mạch rất cần
thiết cho bệnh nhân lúc đầu nhưng phải thay thế nuôi bệnh nhân bằng đường tiêu
hoá càng sớm càng tốt. Dùng chế độ ăn bằng miệng nhiều bữa mỗi ngày và phải tăng
dần số lượng protein và calo để tránh những trường hợp bệnh nhân bị ỉa chảy do
ăn quá nhiều về số lượng. Nhưng trái lại nhiều bệnh nhân rất lâu được hồi phục,
sẹo lâu liền do chế độ ăn không đủ đặc biệt là thiếu protein.
Mục lục
|