Điếc và cách phát hiện
Bác sĩ Nguyễn Thị Bích Thủy
Trưởng khoa thanh thính học
Bệnh viện Tai Mũi Họng TP.HCM
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Bethoven nhà soạn nhạc
nổi tiếng, cả thế giới ai cũng biết đến khi bị điếc đă thốt lên:”Sự
bất hạnh này của tôi làm nỗi đau tăng lên gấp hai, không ai hiểu
được tôi. Tôi không c̣n những cuộc vui, những cuộc nói chuyện thú
vị, không c̣n những buổi trao đổi kinh nghiệm với các bạn đồng nghiệp.
Tôi muốn được ḥa nhập với xă hội nhưng căn bệnh của tôi bắt tôi
sống như một người bị ruồng bỏ”.
Ảnh hưởng điếc
đối với người lớn đă vậy, nhưng đối với trẻ nhỏ c̣n nặng nề hơn
nhiều, có thể ví như một thảm họa. Nó gây ra các hậu quả liên tiếp.
Trẻ nghe kém thường chậm nói hoặc không nói được. Từ đó dẫn đến
chậm phát triển ngôn ngữ và gây khó khăn cho việc học tập.
Theo số liệu thống kê
của WHO năm 2000, trên thế giới có khoảng 250 triệu người điếc, chiếm 4,2
% dân số. WHO cũng ước tính số người điếc trên 14 tuổi của vùng
Đông Nam Châu Á là 63 triệu người.
Riêng ở Việt Nam từ 12/2000
đến 12/2001 Trung tâm Tai Mũi Họng TP.HCM và Viện Tai Mũi Họng
thực hiện điều tra “Bệnh tai và nghe kém” tại 6 tỉnh trên cả nước,
3 tỉnh phía Bắc và 3 tỉnh phía Nam, kết quả tỷ lệ điếc khoảng 6%
tức là cứ 100 người có 6 người bị điếc. Đây là một tỷ lệ rất cao.
II. ĐIẾC VÀ ĐỘ ĐIẾC
1. Thế nào là điếc ?
- Người điếc là người
không có khả năng nghe như người có sức nghe b́nh thường.
- Có nhiều mức độ điếc
khác nhau :
·
Nghe b́nh thường:
có thể nghe được cả lời nói thầm
·
Điếc nhẹ:
chỉ nghe được lời nói b́nh thường khi đứng cách 1 mét
·
Điếc trung b́nh:
Chỉ có thể nghe nói lớn khi đứng cách 1mét
·
Điếc nặng:
chỉ có thể nghe khi được hét sát vào tai.
·
Điếc sâu (rất nặng)
: Không nghe được cả những từ hét sát tai = điếc
2.
Điếc mức độ nào được coi là tàn tật ?
Người lớn:
khi chỉ nghe được tiếng nói lớn hoặc các từ thét lên
Trẻ em:
Khó khăn nghe khi giao tiếp b́nh thường
V́
sao mức độ điếc được coi là tàn tật của trẻ em so với người lớn
lại nhẹ hơn ?
v́ trẻ em cần nghe tốt để học nói và phát triển ngôn ngữ
3. Để hiểu chúng ta nghe như thế nào, trước tiên xin nhắc lại
a. Giải phẫu tai:
- Tai ngoài:
vành tai, ống tai ngoài,
màng nhĩ
- Tai giữa:
chuỗi 3 xương nhỏ (xương búa, xương đe, xương bàn đạp)
- Tai trong:
ốc tai, hệ thống tiền đ́nh, thần kinh thính giác
b. Vậy chúng ta nghe như thế nào?
1.
Vành tai thu nhận âm thanh truyền qua ống tai ngoài đến màng
nhĩ.
2.
Âm thanh chạm vào màng nhĩ làm màng nhĩ rung động.
3.
Sự rung động này chuyền qua chuỗi xương con đến ốc tai
4.
Và làm cho dịch trong ốc tai chuyển động
5.
Sự chuyển động của nước nội dịch làm cho các tế bào lông
chuyển động từ đó tạo ra các tín hiệu điện rất nhỏ. Những tín hiệu
điện này kích thích thần kinh thính giác. Các tế bào lông nằm ở
đỉnh ốc tai tạo ra những thông tin âm trầm và các tế bào lông nằm
ở đáy ốc tai tạo ra những thông tin âm cao
6.
Các tín hiệu điện được truyền qua thần kinh thính giác đến
năo. Năo có bộ phận phân tích những tín hiệu điện này thành các
âm.
4. Có mấy loại điếc
4.1 Điếc dẫn truyền:
·
Nguyên
nhân: bệnh
tích nằm ở tai ngoài và tai giữa, ngăn cản đường truyền của âm thanh
đến tai trong như nút ráy tai, viêm tai giữa.v.v…
·
Mức
độ điếc: từ
nhẹ đến vừa, có thể điếc tới 60-70 dB
·
Một số
trường hợp có thể chỉ bị điếc tạm thời.
·
Điều
trị:Nhiều
trường hợp tùy theo nguyên nhân, có thể bằng thuốc hay phẫu thuật
·
Máy nghe
đối với dạng điếc
này rất tốt
4.2
Điếc tiếp nhận ốc tai
·
Nguyên
nhân: bệnh
tích nằm ở tai trong làm âm thanh truyền đến tai trong không biến
đổi được thành các xung điện ví dụ như điếc già (lăo thính) , Điếc
nghề nghiệp (các tế bào của ốc tai bị hư hại do tiếng ồn), điếc
do nhiễm khuẩn hoặc virus (quai bị, viêm màng năo, giang mai…)
·
Mức
độ điếc: nhẹ,
vừa, nặng, sâu, thậm chí điếc hoàn toàn
·
Thường
là điếc vĩnh viễn
·
Điều
trị: Tùy theo
nguyên nhân, một số trường hợp có thể điều trị thuốc. Giải phẫu
không tác dụng.
·
Máy
nghe: có thể
giúp trong các trường hợp điếc nhẹ đến nặng
·
Cấy điện ốc tai
rất tốt trong các trường hợp điếc nặng và sâu
4.3
Điếc thần kinh sau ốc tai : rất
hiếm
·
Nguyên
nhân: dây
thần kinh thính giác không có hoặc bị hư hại v́ thế tín hiệu không
thể đưa lên năo (u dây thần kinh thính giác. Tổn thương ở thân năo
(tắc mạch,u, nhiễm khuẩn, xơ cứng rải rác). Tổn thương ở vỏ năo
(viêm năo, viêm màng năo, chấn thương, xuất huyết, tắc mạch, u,
thiếu máu…)
·
Máy
nghe: có tác
dụng rất ít
·
Cấy
điện ốc tai:
không ích lợi ǵ
·
Cấy
điện thân năo:
có thể giúp
ở vài trường hợp
4.4
Điếc hỗn hợp: thường hay gặp
·
Nguyên
nhân: có thương
tổn tai ngoài, hoặc tai giữa, hoặc cả tai ngoài và tai giữa với
thương tổn tai trong
·
Đặc
điểm: có cả
đặc điểm của điếc dẫn truyền lẫn đặc điểm của điếc thần kinh ốc
tai.
III. NGUYÊN NHÂN ĐIẾC VÀ PH̉NG NGỪA
1.
Các nguyên nhân trước và trong sanh
1.1.Di
truyền: điếc truyền lại
trong ḍng họ và gia đ́nh
1.2.Trong thời gian mang thai :
·
Mẹ bị
bệnh:
sởi hoặc các bệnh virút khác
·
Mẹ dùng
thuốc có hại cho tai:
quinin, streptomycin
v.v
·
Bệnh
truyền qua đường sinh dục:
giang mai
1.3.Trong sanh và ngay sau sanh
·
Sanh:
non, thiếu
tháng
·
Sanh
khó: hút, mổ
·
Sau sanh:
ngạt, vàng da
Các biện pháp pḥng ngừa điếc trước và trong sanh:
·
Có chương tŕnh thực hiện tiêm pḥng một số bệnh trong cộng đồng
trong đó có ngừa sởi
·
Khám phát hiện và điều trị bệnh giang mai ở phụ nữ mang thai,
·
Cần phải thận trọng khi ghi đơn thuốc cho phụ nữ mang thai v́ có
một số loại thuốc gây ngộ độc tai.
·
Chăm sóc tốt từ khi mới mang thai đến khi sanh sẽ là điều kiện tốt
nhất để sanh ra một em bé khỏe mạnh.
·
Trẻ sanh ra bị vàng da cần được điều trị
2.
Các nguyên nhân sau sanh
|
Bệnh trẻ em |
Sởi,
quai bị, viêm màng năo |
|
Nhiễm trùng tai
|
Viêm tai ngoài, viêm tai giữa, nhiễm trùng tai trong
|
|
Thuốc có thể gây ngộ độc tai
|
Thuốc kháng
sinh: streptomycin, gentamycin
Thuốc chống
sốt rét: Kinin, chloroquin |
|
Tiếng ồn
|
Làm việc
trong môi trường ồn liên tục, trong tiếng nhạc lớn,
hoặc tiếp xúc các tiếng nổ lớn |
|
Tai nạn
|
Chấn thương
đầu, chấn thương tai |
|
Tuổi già
|
Khi tuổi
càng lớn, hệ thống thính giác cũng bị lăo hóa và gây
điếc |
|
Nút ráy tai
|
Cản trở đường
truyền âm thanh có thể gây điếc ở bất cứ tuổi nào
|
|
Tai có dịch
|
Viêm tai
giữa thanh dịch là nguyên nhân thường gặp gây
nghe kém ở trẻ em |
Các biện pháp pḥng ngừa điếc sau sanh:
·
Thực hiện chương tŕnh tiêm chủng mở rộng quốc gia
·
Khám phát hiện và điều trị bệnh giang mai ở phụ nữ mang thai,
·
Cần phải thận trọng khi ghi đơn thuốc cho trẻ em v́ có một số loại
thuốc gây ngộ độc tai.
·
Điều trị sớm các nhiễm trùng tai
·
Gíáo dục cho cộng đồng về tác hại của tiếng ồn
·
Trẻ sanh ra bị vàng da cần được điều trị
·
Khuyến khích người dân mang nón bảo hộ khi đi xe máy
IV. ĐÁNH GIÁ THÍNH LỰC:
A. TẦM QUAN TRỌNG CỦA NGHE ĐỐI VỚI TRẺ EM
1.
Nghe tốt rất quan trọng trong việc học nói
2.
Nghe tốt và nói tốt rất quan trọng trong giao tiếp
3.
Giao tiếp tốt rất quan trọng đối với việc học ở nhà và ở
trường
4.
Học tốt giúp cho trẻ phát triển năng lực một cách toàn diện
Trẻ có sức nghe b́nh
thường, lúc đầu phát ra những âm ngẫu nhiên, rồi uốn nắn dần theo
khuôn mẫu các âm phát ra từ người xung quanh. Sau nhiều lần nghe,
tập nói theo trẻ bắt đầu lập lại được những từ dễ nhất. Cứ như thế
ngôn ngữ được h́nh thành theo chu kỳ nghe - phát âm.
Trẻ điếc nặng không nghe
được các âm tự ḿnh phát ra và các âm xung quanh ḿnh v́ vậy không
học nói được. Không những tiếng nói không h́nh thành, ngôn ngữ không
phát triển mà trẻ c̣n bị ảnh hưởng nhiều đến tâm lư. Trẻ điếc bị
ngăn cách với bên ngoài v́ không nghe được, nói được. Do thiếu giao
tiếp trẻ bị cô lập với thế giới bên ngoài và dẫn tới rối loạn về
tâm lư, thiếu quan hệ xă hội, kiến thức về thế giới bên ngoài nghèo
nàn. Trẻ điếc thường bồn chồn, lo lắng, khổ sở trước các t́nh huống
bất ngờ không được chuẩn bị, không hiểu nỗi ư nghĩ của người khác
và cũng không bộc lộ được ư muốn của bản thân. Từ đó mỗi trẻ phản
ứng một cách khác nhau: cáu kỉnh, hay gây gỗ, hoặc lănh đạm thờ
ơ, tính khí thất thường. Cách xử sự của gia đ́nh như quá thương
cảm rồi nuông chiều hay ghét bỏ lạnh nhạt đều làm cho t́nh trạng
ngày càng xấu hơn
V́ những tầm quan trọng trên trẻ em từ khi mới sanh đến khi
thành trẻ lớn phải thường xuyên được kiểm tra thính lực (sức nghe).
Nhà bảo sanh,trạm xá,
khoa sản và khoa nhi của các bệnh viện huyện tỉnh là những địa diểm
tốt để thực hiện việc đánh giá sức nghe cho trẻ.
Cần phải đưa các phương pháp đánh giá sức nghe đơn giản vào nội
dung đào tạo nhân viên y tế và giáo viên
B. CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ SỨC NGHE
Tổ chức y tế thế giới
đề nghị sử dụng 2 phương pháp để đánh giá sức nghe
-
Sử dụng máy đo thính lực (audiometer)
-
Sử dụng giọng nói (voice test)
|
Độ điếc
|
Máy đo TL
|
Giọng nói
|
Xử trí
|
|
b́nh thường
|
£
25 dB |
Nghe được
tiếng nói thầm |
|
|
Nhẹ
|
26-40 dB
|
Nghe và nhắc
lại giọng b́nh thường cách 1 mét |
Có lúc cần
máy nghe |
|
Trung b́nh
|
41-60 dB
|
Nghe và nhắc
lại giọng lớn cách 1mét |
Cần máy nghe
thường xuyên |
|
Nặng
|
61-80 dB
|
Nghe 1 số
từ hét lớn vào tai |
Cần máy nghe
thường xuyên. Nếu không có th́ phải dạy đọc h́nh môi
và ra dấu |
|
Sâu
|
³
81 dB |
Không có
khả năng nghe và hiểu cả tiếng hét vào tai |
Máy nghe
có thể giúp phần nào. Phải có huấn luyện phục hồi thêm.
Đọc h́nh môi và ra dấu là chủ yếu |
1. ĐÁNH GIÁ THÍNH LỰC BẰNG MÁY ĐO THÍNH LỰC
Máy để kiểm tra độ điếc
gọi là máy đo thính lực (audiometer). Có nhiều loại máy đo thính
lực khác nhau. Có loại đơn giản chỉ để khám tầm soát điếc. Có loại
máy phức tạp để xác định không những mức độ điếc mà c̣n xác định
các dạng điếc Hiện nay ở nước ta, chỉ có một số bệnh viện lớn có
loại máy này.
2. ĐÁNH GIÁ THÍNH LỰC
BẰNG GIỌNG NÓI
Tại gia đ́nh và ở hầu hết các cơ sở y tế tuyến dưới không có dụng
cụ để kiểm tra thính lực v́ thế có thể dùng giọng nói để phát hiện
điếc. Các bước tiến hành:
|
Đứng cách bệnh nhân 1 cánh tay ra phía sau,
chếch về 1 bên
|
¯
|
Yêu cầu bệnh nhân đè lên nắp tai bên kia
|
¯
|
Lần lượt nói thầm nhiều từ
|
¯
|
Nếu bệnh nhân nhắc lại đúng,
tai đang thử
̃
nghe b́nh thường
|
¯
¯
|
Nếu bệnh nhân không nhắc lại được, tiếp tục thử bằng cách
phát ra nhiều từ ở giọng b́nh thường
|
¯
|
Nếu bệnh nhân nhắc lại đúng,
tai đang thử
̃ điếc
nhẹ
|
¯
¯
|
Nếu bệnh nhân không nhắc lại được, tiếp tục thử bằng cách
phát ra nhiều từ ở giọng nói lớn
|
¯
|
Nếu bệnh nhân nhắc lại đúng,
tai
đang thử
̃ điếc
trung b́nh
|
¯
¯
|
Nếu bệnh nhân
không nhắc lại được tiếp tục thử bằng cách hét ra nhiều
từ ở sát tai
|
¯
|
Nếu bệnh
nhân nhắc lại đúng,
tai đang
thử̃
điếc nặng
|
¯
Bệnh nhân thậm chí tiếng
hét lớn cũng không nghe th́ bị điếc sâu hay c̣n gọi là điếc
3. ĐÁNH GIÁ THÍNH LỰC TRẺ EM NHỎ
Đối với trẻ em nhất là trẻ nhỏ, mẹ hoặc người trực tiếp chăm sóc
là người có thể biết tốt nhất trẻ có nghe được hay không. Trẻ phát
triển b́nh thường, ở mỗi độ tuổi khác nhau có thể có những biểu
hiện khác nhau với âm thanh. V́ vậy, chúng ta cần phải nắm được
quá tŕnh này.
|
Tuổi (tháng)
|
Đáp ứng với âm thanh
|
|
< 1 |
Một vài dấu hiệu như mở mắt, chớp mắt
|
|
6 |
Quay đầu hoặc mắt nh́n theo hướng phát âm thanh
|
|
9 |
Lắng nghe và tự phát ra các loại âm từ lớn đến nhỏ
|
|
12 |
Biết tên ḿnh và một số từ, bắt đầu bập bẹ nói
|
|
18 |
Biết chỉ một số đồ vật quen thuộc khi được yêu cầu,
biết nói một số từ đơn giản |
|
24 |
Có thể nghe những từ rất nhỏ và hướng của nó, có khả
năng nói những câu đơn giản |
BẢNG CÂU HỎI ĐÁNH GIÁ SỨC NGHE CỦA TRẺ
Từ đáp ứng của trẻ nghe b́nh thường đối với âm thanh chúng ta có
bảng câu hỏi để đánh giá sức nghe của trẻ như sau:
|
Tuổi
(tháng) |
Câu hỏi |
có |
không |
|
|
< 1
|
Con của bạn có mở mắt, nhắm mắt khi nghe tiếng động?
Bé có vẻ như lắng nghe khi bạn nói hoặc hát không?
|
|
|
|
6
|
Con của bạn có nh́n theo hoặc quay đầu theo hướng phát
âm thanh không? Bé có vui khi bạn nói chuyện với nó
không? |
|
|
|
9
|
Con của bạn có nghe được âm rất nhỏ không? Có thích
bập bẹ hay tạo ra các âm khác không? |
|
|
|
12
|
Khi bạn gọi tên, con của bạn có biết không? khi bạn
nói tên một số đồ chơi bé có biết không? Có bắt đầu
bập bẹ vài từ không? |
|
|
|
18
|
Khi bạn yêu cầu con của bạn cầm lên hay chỉ một đồ vật
ǵ bé có làm theo không? Có biết sử dụng một số từ đơn
giản không? |
|
|
|
24
|
Con bạn có nghe được ngay cả khi bạn nói nhỏ không?
Có biết nói những câu đơn giản với bạn không?
|
|
|
Nếu có câu hỏi nào trả lời không, có thể đứa trẻ này bị nghe kém.
Cần giải thích với bố mẹ và giới thiệu trẻ đến nơi có máy móc đặc
hiệu để chuẩn đoán xác định.
4. PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ THÍNH LỰC TRẺ SƠ SINH
Phương tiện:
- Pḥng yên tĩnh
- Dụng cụ: Gịong nói
- 01 người, tốt nhất là nữ, nếu là mẹ th́ tốt nhất
Các bước tiến hành:
-
Bé vừa mới ngủ không quá 5 phút
-
Người thử: nói lần lượt năm chữ cái: A, I, M,
X, S cách tai thử của bé 50 cm
-
Đánh gíá bé nghe được hay không bằng cách quan sát phản ứng của
bé với tiếng động: chớp mắt, mở mắt, vặn ḿnh, cử động chân tay.
-
Bé có phản ứng với âm thử có nghĩa bé nghe b́nh thường.
5. PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ THÍNH LỰC TRẺ 1-3 TUỔI
Phương tiện:
- Pḥng yên tĩnh
- Dụng cụ: lục lạc, ly, th́a, trống, chuông
Các bước tiến hành:
-
Điều quan trọng là người thử phải đứng cách 1mét phía sau
lưng bé không được để bé biết và tạo ra tiếng động từ các
dụng cụ thử.
-
Đánh gíá bé nghe được hay không bằng cách quan sát phản ứng của
bé với tiếng động: chớp mắt, lắng nghe, quay đầu về nơi phát ra
tiếng động.
-
Bé có phản ứng với những tiếng động nhỏ của lục lạc hay tiếng cà
ly có nghĩa bé nghe b́nh thường.
6. PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ THÍNH LỰC TRẺ 3-7 TUỔI
Phương tiện:
- Pḥng yên tĩnh
- Dụng cụ: một số tranh h́nh dơn giản
Các bước tiến hành:
-
Người thử ngồi đối diện với bé, nói ra tên các h́nh để bé
nghe và chỉ vào thực hiện cho đến lúc bé hiểu cách thử.
-
Sau đó người thử đứng phía sau nói th́ thầm tên các h́nh, mỗi h́nh
nói từ 2-3 lần cho đến lúc chắc chắn bé nghe được .
-
Đánh gíá bé nghe được hay không bằng cách quan sát bé có chỉ đúng
h́nh được nói ra hay không.
-
Nếu
không có tranh, có thể yêu cầu bé chỉ đồ vật quen thuôc trong pḥng
thử như bàn, ghế, bút, cửa v.v…hay chỉ các bộ phận cơ thể như tóc,
tai, tay, mũi, miệng v.v…
-
Nếu nói thầm bé chỉ không đúng th́ dùng giọng nói thường, nếu
không đúng nữa th́ dùng giọng nói lớn, rồi đến hét lớn gần tai.
Từ đó, ta có thể đánh giá sơ bộ bé điếc
nhẹ, trung b́nh, hay nặng ...
V. PHÁT HIỆH SỚM VÀ CAN THIỆP SỚM
Khi bị điếc, cần phải được can thiệp sớm. Muốn can thiệp sớm th́
phải phát hiện được sớm. Can thiệp càng sớm bao nhiêu th́ tác hại
của điếc giảm đi bấy nhiêu. Tùy theo từng loại điếc và nguyên nhân
gây ra mà chúng ta can thiệp.
1.
Điều trị bằng thuốc hoặc thủ thuật, phẫu thuật
- Tai ngoài: Có nhiều bệnh nhân sau khi đi tắm biển về
hoặc sau khi tắm gội bị điếc luôn một hoặc hai tai, đó là do ráy
tai bị nở ra bít kín đường truyền âm thanh đến màng nhĩ. Đối với
những trường hợp này chỉ cần lấy ráy tai ra bệnh nhân sẽ nghe lại
b́nh thường.
- Tai giữa: tắc ṿi nhĩ hoặc viêm tai giữa thanh dịch nếu
không điều trị kịp thời sẽ dẫn đến viêm tai giữa thủng nhĩ. Lúc
này muốn tăng sức nghe lên không chỉ điều trị bằng thuốc mà c̣n
phải thực hiện phẫu thuật vá nhĩ.
- Tai trong:
Điếc đột ngột, bệnh nhân thường bị điếc sau một đêm ngủ dậy. Đây
là bệnh không gây tử vong ngay như các bệnh cấp cứu khác nhưng cũng
là một trong các bệnh cấp cứu tai mũi họng, v́ kết quả điều trị
rất khác nhau nếu ngay 1 ngày sau điếc hay một tuần sau mới
điều trị.
Sau
điều trị thuốc và phẫu thuật mà sức nghe đă cải thiện vẫn không
đáp ứng được giao tiếp b́nh thường th́ phải có thêm trợ thính bằng
máy nghe hay cấy điện ốc tai
2. Cho bệnh nhân mang máy nghe.
Tất cả các trường hợp điếc nhẹ và điếc trung b́nh, thậm chí điếc
nặng và điếc sâu mà không có đủ khả năng kinh tế để cấy điện ốc
tai đều nên mang máy nghe càng sớm càng tốt. Những người điếc nhẹ
và điếc vừa nếu không can thiệp sớm sẽ ảnh hương đến sinh hoạt và
công tác hàng ngày v́ không giao tiếp tốt. Nếu để lâu không can
thiệp, tiếng nói có thể bị méo. Không nghe được tốt và hiểu
người khác cũng không tốt, dần dần họ trở nên cô lập, tâm sinh lư
thay đổi và sức khỏe cũng ảnh hưởng.
3. Cấy điện ốc tai:
Bệnh
nhân điếc nặng và sâu, máy nghe cũng không giúp được cho họ nữa
th́ có chỉ định cấy điện ốc tai. Đối với trẻ điếc bẩm sinh và điếc
trước ngôn ngữ, thời gian bắt đầu mang máy nghe hoặc cấy điện ốc
tai rất quan trọng, muốn đạt kết quả tốt nhất phải thực hiện trước
5 tuổi, tuổi thích hợp nhất là từ 2 đến 3 tuổi v́ đây là giai đoạn
học nói của trẻ.
Đối với người điếc nặng và sâu, sau khi có ngôn ngữ nếu không được
can thiệp sớm dây thần kinh thính giác 15-10 năm không hoạt động
khi có âm thanh trở lại nó cũng không truyền tải thông tin tốt đến
vỏ năo v́ vậy dù có được cấy điện ốc tai kết quả cũng kém xa những
người được cấy ốc tai sau 1,2 năm điếc. Tại bệnh viện Tai mũi họng,
trong 3 năm qua có thực hiện 9 trường hợp cấy điện ốc tai, kết quả
khả quan. Trẻ nghe được tốt và đang trong thời gian tập nói.
V́ vậy tất cả những trường hợp ù tai, nghe kém, hay trẻ sơ sinh
trong nhóm có nguy cơ cao bị điếc (như trong ḍng họ có người
điếc, mẹ có bệnh khi mang thai, sanh thiếu tháng, sanh non, vàng
da sau sanhv.v... ) nên đến ngay khoa thính học của bệnh viện
tai mũi họng TP.HCM (157B Trần Quốc Thảo Q.3.TP.HCM) khám. Hiện
tại khoa chúng tôi là một trong 2 cơ sở trong cả nước có tương đối
đầy đủ các phương tiện để chẩn đoán điếc, ngay cả những phương
tiện dùng để chẩn đóan cho trẻ vài ngày tuổi. |