Tác giả : SK&ĐS
* MAI MỰC(Nguyễn Hải Linh - Vũng Tàu)
Trả lời: C̣n gọi là hải phiêu tiêu, mai cá mực, ô tặc cốt.
Tên khoa học Sepia esculenta Hoyle, Sepia andreana Steen-Strup.
Thuộc họ Cá mực Sepiidae.
Ô tặc cốt - Os Sepiae là mai rửa sạch, phơi khô của con mực nang hay mực ván (Sepia esculenta Hoyle) hoặc của con mực ống, mực cơm Spia andreana cùng họ mực (Sepiidae), nhưng chủ yếu là mực nang hay mực ván v́ mực cơm hay mực ống có mai nhỏ.
Tên ô tặc v́ theo các sách cổ, con cá mực thích ăn thịt chim, thường giả chết nổi trên mặt nước, chim tưởng là xác chết, bay sà xuống để mổ, bị nó lôi xuống nước ăn thịt, ăn nhiều thịt quạ do đó thành tên, ô là quạ, tặc là giặc, cốt là xương, ư nói xương của giặc đối với quạ.
Tên hải phiêu tiêu v́ vị thuốc giống tổ con bọ ngựa mà lại gặp ở ngoài bể (phiêu tiêu là tổ bọ ngựa).
Mô tả con vật
Ở nước ta có nhiều mai mực. Mực ống, mực nang, mực cơm v.v... Mực là một động vật sống ở vùng nước có độ mặn cao, vùng đáy có cát pha bùn, nhất là vùng đáy h́nh ḷng chảo lơm xuống giữa 2 cồn cát.
Mực thường sống từng đàn ở tầng nước đáy, khi kiếm mồi mới nổi lên tầng nước trên.
Hầu hết khi bơi lội trong nước, mắt mực lồi ra, màu da luôn luôn thay đổi theo màu nước để dễ lẩn tránh và bắt mồi. Lúc nguy biến th́ mực bơi giật lùi và phun mực ra, làm cho nước vùng đó đen lại, khiến kẻ địch lóa mắt, rồi t́m cách lẩn trốn.
Mực rất thích ánh sáng và màu trắng, khi thấy ánh sáng, mực tập trung rất đông. Mực rất thích ăn các loại trứng cá, tôm cá con và những động vật nhỏ khác trong nước.
Mùa khai thác mực là các tháng 3-9, là thời kỳ mực bơi vào gần bờ để sinh đẻ. Chủ yếu vào các tháng 4, 5, 6. Ngoài mai mực đánh bắt được, người ta c̣n khai thác mai mực của các con mực to bị chết ở ngoài khơi, sóng gió thổi dạt vào bờ.
Công dụng và liều dùng
Theo tài liệu cổ ô tặc cốt vị mặn, tính ôn, vào 2 kinh can và thận. Có tác dụng thông huyết mạch, khứ hàn thấp, cầm máu. Dùng chữa thổ huyết, máu cam, đại trường, hạ huyết phụ nữ băng huyết, xích bạch đới, kinh bế, mắt mờ. Những người âm hư đa nhiệt không dùng được.
Hiện nay ô tặc cốt là một vị thuốc được dùng trong phạm vi nhân dân để chữa các bệnh sau:
1. Chữa bệnh đau dạ dày thừa nước chua, loét dạ dày chảy máu, ho lao lực, trẻ chậm lớn, phụ nữ băng huyết.
2. Thuốc chữa mờ mắt, tai chảy mủ.
3. Dùng ngoài, tán bột rắc lên các vết thương để cầm máu.
Ngày uống 4-8g dưới dạng thuốc bột hay thuốc viên.
Đơn thuốc có mai mực dùng trong Đông y
1. Thổ huyết
Ô tặc cốt tán thật nhỏ. Ngày uống 4-5 lần, mỗi lần 1-2g, uống với nước cơm hay nước sắc bạch cập (10 hay 20g bạch cập sắc với 300ml nước để chiêu thuốc).
2. Tai có mủ.
Ô tặc cốt 2g, sạ hương 0,4g. Tán thật nhỏ, lấy bông bọc vào đầu tăm chấm thuốc ngoáy vào tai.
3. Phụ nữ bị loét âm hộ
Ô tặc cốt thiêu tồn tính, trộn với ḷng đỏ trứng gà bôi vào vết lở loét đă rửa.
GS. ĐỖ TẤT LỢI
(Phương - Long An)
Trả lời: Thuốc bạn hỏi có thể là Mifepristone (trước đây c̣n gọi là RU486). Ta cần biết một trong hai hormone sinh dục nữ là progesterone đóng vai tṛ quan trọng trong sự thụ thai và duy tŕ thai ở người phụ nữ. Nếu trứng đă thụ tinh mà sự tiết progesterone không đầy đủ sẽ làm trứng thụ tinh không làm tổ được hoặc sinh ra sẩy thai. Mifepristone là thuốc có tác dụng kháng progesterone, tức làm cho hormone này không gắn được vào thụ thể của nó ở niêm mạc. Hậu quả là niêm mạc tử cung không phát triển thuận lợi cho việc làm tổ của trứng thụ tinh. Từ năm 1990, Mifepristone đă được thử nghiệm phối hợp với một thuốc là Misoprostol (là một dẫn chất prostaglandin được dùng làm thuốc ngừa viêm loét dạ dày tá tràng, do phải sử dụng dài hạn thuốc chống viêm không steroid đồng thời có tác dụng gây co thắt tử cung) để chấm dứt sớm sự thụ thai (early termination of pregnancy). Từ đó đến nay, nhiều công tŕnh nghiên cứu đă chứng tỏ sự kết hợp thuốc Mifepristone và Misoprostol có hiệu quả rất tốt, chẳng kém so với phương pháp hút điều ḥa kinh nguyệt mà lại không có biến chứng xuất huyết hoặc có tác dụng phụ không đáng kể. Mifepristone đă được sử dụng từ khá lâu ở các nước châu Âu. Mỹ là nước có phong trào chống phá thai hoạt động mạnh chỉ mới công nhận Mifepristone gần đây. Ở ta, thuốc đă được thử nghiệm lâm sàng và sử dụng trong mấy năm nay. Đương nhiên thuốc chỉ được dùng theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa phụ sản.
TS. DS. NGUYỄN HỮU ĐỨC
(Q.N. - Hải Pḥng)
Trả lời: Hai nguyên nhân kể trong thư đều có thể ảnh hưởng đến việc chậm có con của em. Em đừng nghĩ quá ư đơn giản là cứ tháo ṿng ra là có con ngay cho dù em không có bệnh ǵ đi chăng nữa.
Dính ṿng có thể làm xơ cứng một vùng niêm mạc trong ḷng tử cung nên khó đậu thai. C̣n bệnh lao phổi có thể dẫn đến biến chứng lao sinh dục gây viêm dính ṿi trứng, làm noăn không gặp được tinh trùng tạo thành trứng và phát triển thành bào thai.
Do vậy em cần về Hà Nội khám và xét nghiệm đầy đủ ở khoa Vô sinh thuộc BV. Phụ sản để biết tử cung và ṿi trứng có ǵ trục trặc không, cũng như nguyên do nào dẫn đến việc chậm có con.
BS. DƯƠNG MINH HOÀNG
(V.N. - An Giang)
Trả lời: Đau đầu khi sinh hoạt t́nh dục là một trạng thái bệnh lư không quá hiếm gặp, thường phát sinh ngay trong hoặc sau khi quan hệ t́nh dục. Cảm giác đau có thể xuất hiện ở vùng trán, vùng chẩm hay toàn đầu, kéo dài chừng vài giờ hoặc từ 2-3 ngày th́ giảm dần và hết hẳn, để rồi lại tái diễn tương tự trong các cuộc sinh hoạt t́nh dục kế tiếp.
Theo quan niệm của y học cổ truyền, trong cơ thể con người thận và can là hai tạng có vai tṛ hết sức quan trọng và có mối liên hệ mật thiết với nhau. Thận chủ việc tàng chứa tinh, tinh sinh tủy, năo là bể của tủy; Can tàng chứa huyết, huyết theo khí đưa lên nuôi năo. V́ lư do nào đó như lao lực quá độ, tinh thần căng thẳng, pḥng sự quá mức... sẽ làm cho can thận suy hư, tinh hao huyết tổn khiến năo tủy không được nuôi dưỡng đầy đủ mà phát sinh chứng đau đầu khi sinh hoạt t́nh dục, cổ nhân gọi là chứng Pḥng sự đầu thống.
Về mặt trị liệu, y học cổ truyền dùng phương thức biện chứng luận trị, nhưng phần lớn là sử dụng phép Tư âm bổ thận, tiềm dương chỉ thống (bồi bổ phần âm, trong đó chủ yếu là thận âm; làm cho dương khí không bốc mạnh lên vùng đầu và giảm đau). Phương thuốc mà cổ nhân hay dùng cho chứng bệnh này là Trấn can tức phong thang, được ghi trong y thư cổ Trung tham tổng luận. Công thức gồm có: bạch thược 20g, long cốt 20g, quy bản 20g, cam thảo 6g, mạch nha 8g, thanh hao 8g, đại giả thạch 40g, mẫu lệ 20g, thiên môn 20g, huyền sâm 20g, ngưu tất 40g, xuyên luyện tử 8g. Cách dùng: Sắc uống mỗi ngày 1 thang, mỗi thang sắc 3 lần, mỗi lần đổ 3 bát nước, sắc cô c̣n non 1 bát, uống nguội sau ăn chừng nửa giờ, kiêng các thực phẩm có tính cay nóng. Kinh nghiệm dân gian c̣n dùng tủy ḅ hoặc dê ngâm rượu uống mỗi ngày 1 lần, mỗi lần 1 th́a canh, có tác dụng bổ tinh tủy, tráng gân cốt, tư âm dưỡng huyết.
Ngoài ra, nên kết hợp tự day bấm một số huyệt vị châm cứu như: Bách hội (là giao điểm của đường nối hai đỉnh vành tai và trục giữa cơ thể), Thái dương (nằm ở ngay sau đuôi mắt chừng 2cm), Ấn đường (điểm giữa đường nối đầu trong hai lông mày), Phong tŕ (chỗ lơm hai bên khối cơ ở gáy ngay dưới xương chẩm) và Tam âm giao (là điểm phía trên mắt cá trong 4 khoát ngón tay ở bờ sau xương chày). Luyện tập khí công dưỡng sinh cũng có một ư nghĩa nhất định nhằm tái lập thế cân bằng động giữa hưng phấn và ức chế.
Khi đang sinh hoạt t́nh dục, nếu xuất hiện t́nh trạng đau đầu th́ tốt nhất nên ngừng giao hợp ngay lập tức, tiến hành thư giăn và day bấm những huyệt vị như đă nêu trên. Thuốc y học cổ truyền nên sử dụng thành từng đợt điều trị, mỗi đợt chừng 10-15 ngày tùy theo mức độ nặng nhẹ của bệnh. Tốt nhất nên tham vấn ư kiến của các thầy thuốc chuyên khoa.
Thạc sĩ HOÀNG KHÁNH TOÀN