HĐSK

Tác giả : SKĐS

* CÂY SỮA

Hỏi: Ở quê tôi, người dân có dùng vỏ một loại cây (gọi là cây sữa hoặc cây ṃ cua) để ngâm rượu chữa kiết lỵ và tiêu chảy. Xin bác sĩ cho biết rơ hơn về công dụng của loại cây này?

(Nguyễn Hoàng Long - An Giang)

Trả lời: C̣n có tên là mùa cua, ṃ cua (Nam bộ và Nam Trung bộ), tinpét (Viêntian), popeal-khê (Campuchia).

Tên khoa học Alstonia scholaris (L.) R. Br. (Echites scholaris L.).

Thuộc họ Trúc đào Apocynaceae.

V́ cây có chất nhựa mủ màu trắng như sữa nên gọi là cây sữa. Tên là Alstonia scholaris v́ gỗ cây này rất mịn, nhỏ; Tại các trường học ở Ấn Độ, người ta dùng làm bảng viết cho học tṛ (scholaris là trường học).

Dùng vỏ cây phơi hay sấy khô làm thuốc.

Mô tả cây

Cây sữa là một loại cây to, có thể cao từ 15-30m. Cành mọc ṿng, lá cũng mọc ṿng, phiến lá h́nh bầu dục dài, đầu tù hoặc hơi nhọn, đáy lá h́nh nêm, mặt trên bóng, mặt dưới mờ, phiến cứng dài 8-22cm, rộng 5,5-6,5cm. Gân song song và mau. Hoa nhỏ, màu trắng xám, mọc thành xim tán. Quả gồm hai đại dài 25-50cm, gầy, mọc thơng xuống, màu nâu, có gân dọc. Hạt nhiều, nhỏ dẹt, hai đầu tṛn hoặc cụt, dài 7mm, rộng 2,5mm, trên mặt có lông màu nâu nhạt.

Mùa hoa nở từ tháng 8 đến tháng 12.

Toàn cây có chất nhựa mủ trắng, khi khô giống như chất cao su.

Phân bố, thu hái và chế biến

Mọc hoang và được trồng khắp nơi ở nước ta. Thường trồng dọc 2 bên đường phố để lấy bóng mát. Hoa có mùi thơm hắc khó chịu. Cây mọc ở nhiều nước nhiệt đới khác như Ấn Độ, Philippin, Indonesia, Malayxia, châu Úc, châu Phi.

Vỏ hái quanh năm, nhưng tốt nhất vào mùa xuân, hạ. Hái về phơi hoặc sấy khô để dành. Hiệu suất thấp. Một cây 25 năm cho chừng 19kg vỏ khô.

Tác dụng dược lư

Năm 1906, Bacon đă nghiên cứu tác dụng dược lư của những alkaloid chiết từ vỏ cây sữa và kết luận rằng tác dụng gần giống như chất quinin.

Năm 1926, José K. Santos (Philipin) có nghiên cứu kỹ hơn và công bố kết quả nghiên cứu trong báo khoa học ở Philippin (Philipin J Sci., 3:31).

Công dụng và liều dùng

Vỏ cây sữa được nhân dân Việt Nam, Ấn Độ, Philippin, Campuchia và một số nước khác vùng Đông Nam Á sử dụng làm thuốc. Trung Quốc và Nhật Bản không thấy dùng.

Thường vỏ cây sữa được dùng làm thuốc bổ, chữa sốt, điều kinh và chữa lỵ hoặc tiêu chảy.

Liều dùng: Ngày uống 1-3g bột vỏ phơi khô hoặc sắc uống hay chế biến thành cao lỏng.

1. Bột vỏ cây sữa phơi khô hoặc sấy khô rồi tán nhỏ, ngày uống 0,2-0,3g.

Có thể ngâm rượu uống như sau:

2. Rượu vỏ cây sữa: Vỏ cây sữa tán nhỏ 75g, rượu uống (35-400) 500ml, đậy kỹ, ngâm trong 7 ngày, thỉnh thoảng lắc đều. Sau đó lọc và thêm rượu vào cho đủ 500ml.

Ngày uống 4-8g rượu này. Uống 15 phút trước 2 bữa ăn chính.

3. Cao lỏng vỏ cây sữa: Chế bằng cồn 600 theo phương pháp chế cao lỏng. Hoặc có thể ngâm bột vỏ sữa với cồn 600 trong 7 ngày. Thỉnh thoảng lắc, lọc và thêm cồn 600 cho bằng trọng lượng của vỏ. Ví dụ ngâm 1kg vỏ th́ sẽ được 1 lít cao lỏng. Cao lỏng này dùng với liều 0,5-1,5g mỗi ngày. Nhiều nhất chỉ uống 2g/lần và 6g trong 1 ngày.

GS. ĐỖ TẤT LỢI

* U MỀM LÂY

Hỏi:Con trai tôi năm nay 10 tuổi, bị nổi một số nốt nhỏ, tṛn, màu trắng ngà, không đau, không ngứa ở vùng mông. Sau đó lan ra bụng và lưng. Đi khám bệnh, bác sĩ bảo là bị u mềm lây. Xin bác sĩ cho biết đây là bệnh ǵ và cách điều trị ra sao?

(Nguyễn Thị Thanh Huệ - TPHCM)

Trả lời: U mềm lây là bệnh do virus gây nên, có tên khoa học là Molluscum Contagiosum, được Batcman mô tả từ năm 1817. Bệnh thường xảy ra ở trẻ em, đôi khi gặp ở người lớn tại cơ quan sinh dục.

Triệu chứng lâm sàng

Với sang thương cơ bản là sẩn, có màu da b́nh thường hay màu trắng ngà, lơm ở trung tâm, kích thước khoảng 2-5mm, nổi rải rác ở một hoặc nhiều vùng trên cơ thể như ở thân ḿnh, nách, vùng hậu môn, mặt, cổ...

Triệu chứng toàn thân thường không biểu hiện ǵ đặc biệt, ít khi ngứa trừ khi bội nhiễm.

Điều trị

Ở người lớn và trẻ em có sức miễn dịch tốt, bệnh thường tự khỏi. Có nhiều phương pháp để điều trị:

- Đốt bằng Laser CO2.

- Nạo bằng th́a nhỏ, thường không cần gây tê.

- Chấm acid Trichloracetic 50%, không dùng thuốc ở mặt và gần mắt.

Chị nên đưa cháu đến Bệnh viện Da liễu TPHCM hoặc Pḥng khám Da liễu Quận 8 để điều trị.

BS. CKI. TRẦN QUỐC LONG

* RỄ DỨA DẠI VÀ MÍA ĐỎ CHỮA VIÊM GAN B

Hỏi:Người nhà tôi bị viêm gan B, chữa bằng thuốc Tây sau 1 tháng th́ bệnh thuyên giảm và ra viện. Có người mách nên dùng rễ cây dứa dại và mía đỏ rửa sạch, giă nát, vắt lấy nước uống, mỗi ngày lưng bát. Người nhà tôi đă thực hiện và thấy toàn trạng rất dễ chịu. Xin hỏi bài thuốc này có tác dụng thế nào đến bệnh viêm gan B, các bệnh gan khác có dùng được không?

(Nguyễn Văn H.- Đà Nẵng)

Trả lời: Đây là một phương thuốc dân gian được lưu truyền ở nhiều địa phương, không chỉ dùng để chữa bệnh gan mà c̣n chữa cả bệnh thận. Tuy đến nay chưa có công tŕnh nghiên cứu khoa học nào khảo sát và đánh giá tác dụng của bài thuốc một cách đầy đủ và nghiêm túc, nhưng xét trên phương diện dược học cổ truyền th́ quả thực phương thang này cũng có công dụng tốt đối với bệnh lư gan mật.

Trong bài thuốc, rễ cây dứa dại, c̣n gọi là lộ đâu căn, lặc giác cương, lộ đâu lặc cương..., vị ngọt đạm, tính mát, có công dụng phát hăn giải nhiệt, lợi thủy hóa thấp, thường được dân gian dùng để chữa các chứng bệnh như cảm mạo, sốt dịch, viêm gan, viêm thận, viêm đường tiết niệu, phù thũng, đau mắt đỏ, thương tổn do trật đả... Chẳng hạn như để chữa phù thũng, hoàng đản (vàng da do viêm gan) và cổ trướng, kinh nghiệm dân gian thường dùng rễ dứa dại 30g phối hợp với rễ cỏ xước 20g và cỏ lưỡi mèo 20g sắc uống. C̣n mía, c̣n gọi là cam giá, tiếp tràng thảo, đường tiện..., vị ngọt, tính lạnh, có công dụng thanh nhiệt sinh tân, bổ khí kiêm hạ khí và nhuận táo, thường được dùng để chữa các chứng bệnh như nhiệt bệnh thương tân (sốt cao mất nước), táo bón, ho do phế táo, nôn nấc, tâm phiền khẩu khát (bồn chồn, khó chịu trong ngực, môi khô, miệng khát....). Đối với bệnh gan, các sách thuốc cổ và kinh nghiệm dân gian cũng thường dùng mía để chữa những trường hợp do nhiệt thịnh làm thương tổn tỳ âm, can âm. Sách Bản thảo tái tân đă viết: “Cam giá ḥa trung thanh hỏa, b́nh can kiện tỳ, sinh tân chỉ khát” (mía có công dụng điều ḥa các phủ tạng trong ổ bụng, thanh nhiệt mạnh, làm cho gan b́nh ḥa, tỳ khỏe mạnh, bổ sung dịch thể và làm hết khát).

Như vậy, đối với những người bị bệnh gan nói chung, có thể dùng bài thuốc này để hỗ trợ trị liệu trong giai đoạn bệnh tiến triển, điều trị duy tŕ trong giai đoạn ổn định và dự pḥng tích cực bệnh tái phát. Tuy nhiên, v́ cả hai vị thuốc này đều có tính lạnh nên chỉ thích hợp với những người bị bệnh ở thể nhiệt và khi dùng nếu có hiện tượng đi lỏng, chán ăn, đầy bụng.... th́ nên ngừng thuốc ngay. Tốt nhất là nên có sự tư vấn đầy đủ của các thầy thuốc chuyên khoa y học cổ truyền.

Thạc sĩ HOÀNG KHÁNH TOÀN

* GIAO HỢP ĐAU Ở PHỤ NỮ MĂN KINH

Hỏi:Tôi năm nay 45 tuổi, thời gian gần đây mỗi khi quan hệ vợ chồng đều bị đau nên rất lo lắng. Xin bác sĩ cho biết nguyên nhân và hướng điều trị.

(Trần Hồng Th. - TPHCM)

Trả lời: Chứng giao hợp đau thông thường là do hậu quả của sự teo âm hộ, âm đạo sau măn kinh, có thể kèm theo sự ngứa ngáy, viêm âm đạo do nhiễm trùng hay kư sinh trùng. Chị nên đến bác sĩ thăm khám để có thể xác định một trong những nguyên nhân sau:

- Xác nhận sự teo âm hộ, âm đạo.

- T́m triệu chứng co thắt lỗ âm hộ do teo hay triệu chứng khít liên quan do chứng bạch biến, teo âm hộ.

- Nhận biết viêm âm hộ do trichomonas khi huyết trắng có bọt, màu xanh, niêm mạc bầm có nhiều chấm xuất huyết.

- Nhận biết viêm âm hộ do nấm, là bệnh ít thấy sau măn kinh khi huyết trắng là những mảng trắng, giống như sữa đóng cục.

- Làm phiến đồ âm đạo để xác định nguyên nhân nhiễm bệnh. Phối hợp làm một tiêu bản cổ tử cung âm đạo để phát hiện ung thư.

- Kiểm tra xem chứng ngứa ngáy có thể kèm theo viêm âm hộ hay không? Đồng thời xem xét khả năng có chứng loạn sừng âm hộ.

Qua kiểm tra, bác sĩ sẽ t́m ra nguyên nhân của chứng giao hợp đau, ví dụ như phát hiện một bệnh lư ở vùng tiểu khung, khối u buồng trứng...

GS. PHẠM GIA ĐỨC