Hỏi đáp sức khỏe

Tác giả : SK&ĐS

* VIÊM GAN SIÊU VI B

Hỏi: Tôi năm nay 36 tuổi, xét nghiệm phát hiện viêm gan siêu vi B từ năm 1999, đă điều trị bằng Zeffix. Sau vài tháng xét nghiệm lại cho kết quả HBsAg (+), HBeAg (+), sức khỏe vẫn b́nh thường. Nay tôi muốn sinh con, xin bác sĩ cho biết có được không? Con tôi sinh ra có bị lây bệnh không, nếu có tỷ lệ lây như thế nào?

(Nguyễn Trà M. - Thái B́nh)

Trả lời: Viêm gan siêu vi B là bệnh do virus gây nên, có tên khoa học là Hepatitis B Virus, viết tắt là HBV. Bệnh được mô tả từ thời Hippocrates nhưng măi đến năm 1965, lần đầu tiên Blumberg đă t́m ra thành phần kháng nguyên Au, nguồn gốc từ huyết thanh của một người Úc nên c̣n gọi là kháng nguyên Úc châu (Australia antigen). Ngày nay người ta gọi là kháng nguyên bề mặt của virus viêm gan B, kư hiệu quốc tế là HBsAg (Hepatitis B surface Antigen). Và măi đến mười năm sau, h́nh dạng của virus B mới được mô tả đầy đủ và mang tên tiểu thể Dane.

Năm 1977, Blumberg đă được giải thưởng Nobel nhờ việc phát hiện ra kháng nguyên trong bệnh viêm gan siêu vi B.

Bệnh cảnh lâm sàng của HBV rất đa dạng, trong giai đoạn cấp có thể biểu hiện từ thể lâm sàng không triệu chứng đến thể lâm sàng triệu chứng của một viêm gan điển h́nh, diễn tiến có thể nặng nề đưa đến tử vong, hoặc âm thầm gây viêm gan măn tính, dẫn đến xơ gan hoặc ung thư gan.

Viêm gan siêu vi B lây truyền qua:

1. Qua đường t́nh dục: Vào những năm của thập niên 70, người ta đă ghi nhận và chứng minh viêm gan siêu vi B lây nhiễm qua đường sinh hoạt t́nh dục, do tiếp xúc với tinh dịch và dịch tiết ở âm đạo. Ở những người giao hợp gây nhiều sang chấn như giao hợp qua ngă hậu môn-trực tràng, người giao hợp với nhiều bạn t́nh... là những yếu tố làm cho lây nhiễm trở nên thuận lợi hơn.

2. Qua đường tiếp xúc với máu và chế phẩm của máu hoặc dịch tiết cơ thể: Cách lây truyền này thường gặp ở nhân viên ngành y tế, người truyền máu, tiêm chích, phẫu thuật, châm cứu không đảm bảo vô trùng, xăm ḿnh, xỏ lỗ tai, giác hút, người sử dụng ma túy chung ống tiêm.

3. Lây truyền bệnh cho người sống chung trong gia đ́nh: Sự lây truyền này xảy ra qua tiếp xúc sinh lư giữa vợ chồng, qua da khi bị trầy xước, dùng chung vật dụng cá nhân như dao cạo râu, bàn chải đánh răng...

4. Lây truyền từ mẹ sang con: HBV lây truyền chủ yếu trong lúc sinh hơn là qua nhau. HBsAg có trong sữa mẹ nhưng lây truyền chủ yếu là khi bé cắn làm trầy xước da lúc bú, v́ vậy mẹ có HBsAg (+) được khuyến cáo không nên cho con bú. Mức độ nặng và tiên lượng của t́nh trạng lây nhiễm tùy thuộc vào 2 yếu tố:

1. Mức độ nhân đôi của virus ở người mẹ được dựa vào:

- Nồng độ HBV DNA trong huyết thanh.

- HBeAg là bằng chứng huyết thanh kinh điển của sự lây nhiễm:

+ Mẹ có HBeAg (+), nguy cơ lây cho con là 90-100%.

+ Mẹ có HBeAg (-), nguy cơ lây cho con là 5-20%.

2. Thời gian bị nhiễm siêu vi B cấp tính ở người mẹ:

- Mẹ bị nhiễm ba tháng đầu và 3 tháng giữa của thai kỳ th́ nguy cơ lây nhiễm cho con là 10%.

- Nếu ở 3 tháng cuối của thai kỳ và thời kỳ hậu sản th́ nguy cơ lây nhiễm là 90%.

Qua thư, chị cho biết muốn sinh con, trong khi kết quả xét nghiệm HBsAg và HBeAg (+), nghĩa là mức độ lây nhiễm cho con rất cao, nếu chị sinh bé th́ sau sinh thường các bác sĩ sẽ thực hiện phương pháp tạo miễn dịch chủ động bằng cách tiêm IgG đặc hiệu (HBIG) được trích từ huyết tương người đă được miễn dịch với HBV (thuốc chỉ có giá trị trong thời gian ngắn nên thường dùng cho trẻ sơ sinh từ mẹ có HBsAg (+)). Nếu sau sinh, lây nhiễm HBV cấp tính th́ diễn tiến của bệnh là thể rất nặng, ngược lại nếu nhiễm HBV măn tính th́ dẫn đến nguy cơ xơ gan hoặc ung thư gan sau này. C̣n về tính chất, mức độ nguy hiểm cho sản phụ trong lúc mang thai, lúc sinh và thời gian hậu sản th́ tùy thuộc vào nhiều yếu tố như sức khỏe và sức đề kháng của người mẹ, t́nh trạng sinh có kéo dài làm mất sức sản phụ, có mất nhiều máu... V́ vậy việc đánh giá tiên lượng khó lường trước được. Với những tŕnh bày trên, hy vọng sẽ giúp chị suy nghĩ thật kỹ trước khi đi đến một quyết định phù hợp nhất.

BS. CKI. TRẦN QUỐC LONG

* DI TINH, DI NIỆU

Hỏi: Xin bác sĩ cho biết thế nào là di tinh, di niệu? Chúng có phải là bệnh không và cần khắc phục như thế nào?

(Trần T. - Tây Ninh)

Trả lời: Di tinh là một thuật ngữ không rơ ràng, có thể hiểu là t́nh trạng luôn ḍ rỉ tinh dịch ở đầu dương vật; cũng như thuật ngữ hoạt tinh cũng thường được hiểu là t́nh trạng dễ xuất tinh. Nhiều sách và các bài viết về rối loạn chức năng t́nh dục ở nam giới không thấy mô tả 2 trạng thái trên và h́nh như cũng chưa có một báo cáo khoa học đáng tin cậy nào về trường hợp xuất tinh liên tục như vậy (theo BS. Hồ Đắc Duy). Tuy nhiên, nếu có hiện tượng ḍ rỉ liên tục tinh dịch đích thực, cần kiểm tra tuyến tiền liệt.

Nhiều em trai ở tuổi vị thành niên, chức năng sinh lư bắt đầu phát triển mạnh, phát sinh cảm xúc và ham muốn t́nh dục và dễ mộng tinh (xuất tinh lúc ngủ do mơ thấy chuyện yêu đương...) là chuyện b́nh thường. Sau thủ dâm, sau khi tơ tưởng đến chuyện t́nh dục hoặc xem phim kích dục thấy xuất tiết ở đầu dương vật cũng là chuyện thường thấy ở người trẻ nói chung. Nhiều em đă gọi những hiện tượng như thế là di tinh nhưng thực chất đó chỉ là đáp ứng của cơ thể đang khao khát giải tỏa nhu cầu t́nh dục. Để tránh t́nh trạng nói trên, vị thành niên hay người c̣n trẻ cần thay đổi lối sống, hướng nhiều đến những sinh hoạt lành mạnh, vận động, tránh những tác nhân gây kích thích ham muốn t́nh dục (sách, báo, phim ảnh kích dục...). Y học hiện đại không coi chuyện mộng tinh hay thủ dâm là có hại.

C̣n di niệu cũng là một thuật ngữ mơ hồ, có lẽ bị lầm lẫn với hiện tượng tiểu són hay không ḱm giữ được nước tiểu, nghĩa là nước tiểu cứ tự động ḍ rỉ hay vọt ra do bàng quang không thể kiểm soát được. Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi và ở cả nam lẫn nữ. Khoảng 10% trẻ em trên 5 tuổi và 1% trên 16 tuổi không kiểm soát được tiểu tiện về đêm. Ḍ rỉ nước tiểu liên tục hay tiểu són có nhiều thể bệnh và gây không ít phiền phức cho sinh hoạt (nhiều người luôn phải mang băng gạc thấm, vùng bẹn và cơ quan sinh dục luôn ngứa ngáy và nổi ban đỏ, có mùi khai nên ngại giao tiếp xă hội, ngại cả quan hệ t́nh dục và đi xa nhà). Ở Mỹ hiện có hàng triệu người bị bệnh này, trong đó ước tính có tới 18% nam giới. Nếu thực sự có dấu hiệu ḍ rỉ nước tiểu, cần đến khám ngay ở bác sĩ chuyên khoa tiết niệu.

BS. ĐÀO XUÂN DŨNG

* CÁCH PH̉NG CHỐNG VÀ ĐIỀU TRỊ ĐAU MẮT ĐỎ

Hỏi: Năm nay tôi 65 tuổi, thời gian gần đây bị đau mắt đỏ thường xuyên? Khi bị đau, ngày đầu mắt xốn, ngày sau mắt ngứa và hay chảy nước mắt? Xin bác sĩ cho biết có phải do lớn tuổi nên sức đề kháng của cơ thể yếu đi? Cách pḥng chống và điều trị đau mắt đỏ ra sao?

(Trần Thanh Tùng - TPHCM)

Trả lời: Đau mắt đỏ là bệnh viêm kết mạc cấp tính. Kết mạc là màng mô phủ trên bề mặt tṛng trắng và mặt sau mi mắt. Bệnh thường do virus (adeno virus), lây qua đường tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp do dùng chung vật dụng cá nhân, nhất là trong giai đoạn tiết nhiều xuất tiết (rử mắt). Bệnh thường tự hết trong ṿng 1 tuần và không để lại di chứng. Bệnh thường gây thành dịch đau mắt đỏ. Khi khởi bệnh, thường 1 mắt bị viêm trước, rồi vài ngày sau mắt kia cũng có biểu hiện viêm. Trước tiên có các biểu hiện như xốn, cộm, đỏ mắt, tiết nhiều ghèn, nhất là khi thức dậy ghèn dính ở lông mi mắt gây khó mở mắt. Một số trường hợp có xuất huyết kết mạc làm mắt đỏ kéo dài. Nếu nặng có thể làm mờ mắt, chảy nước mắt, sợ ánh sáng do tổn thương giác mạc (tṛng đen).

Chăm sóc mắt trong thời gian viêm kết mạc gồm:

- Giữ vệ sinh mắt, rửa sạch ghèn.

- Rửa tay sạch, không sờ tay vào mắt.

- Nhỏ mắt bằng thuốc kháng sinh sát trùng nhẹ (Collyre choloraxin 0,4%, Ophthafar) hoặc nước mắt nhân tạo nhiều lần trong ngày (mỗi giờ 1 lần).

- Không tự ư dùng thuốc nhỏ có corticoid (Dexacol, Polydexa,...) nếu không có chỉ định của bác sĩ.

- Tự giác không tiếp xúc với người khác và không dùng chung vật dụng cá nhân, nhất là trong giai đoạn có nhiều ghèn.

- Nếu viêm kết mạc có dấu hiệu nặng (mờ mắt, sợ ánh sáng, chảy nước mắt, ghèn rất nhiều) nên đến bác sĩ mắt khám ngay.

Cơ thể không tạo kháng thể vĩnh viễn kháng virus gây viêm kết mạc nên vẫn có thể bị viêm kết mạc cấp nếu lại tiếp xúc với nguồn lây.

BS. TRẦN THỊ PHƯƠNG THU

* DÙNG THUỐC TRONG THỜI GIAN MANG THAI

Hỏi: Tôi năm nay 30 tuổi, bị viêm đại tràng đă lâu, khám và điều trị nhưng chưa khỏi, đă dùng cả thuốc Nam và thuốc Bắc. Nay đang có thai con thứ hai, tôi rất băn khoăn không biết có được sử dụng các loại thuốc điều trị như: Smecta, Neolac, Diosubtyl,. trong lúc mang thai hay không? Do bị bệnh đại tràng nên tôi không thể dùng sữa và viên sắt được, xin bác sĩ cho biết có cách nào để cung cấp chất sắt cho cơ thể?

(Nguyễn Thị H. - Thanh Hóa)

Trả lời: Viêm đại tràng măn tính là một bệnh lư dễ điều trị nhưng hay tái phát. Nguyên nhân thường gặp là do yếu tố thần kinh nên thuốc chỉ hỗ trợ giảm triệu chứng bệnh. Nguồn gốc thần kinh phải giải quyết bằng chế độ sinh hoạt, ăn uống, giải trí,... phù hợp. Khi có một biến động nào trong cuộc sống như căng thẳng công việc, xung đột gia đ́nh,... th́ bệnh dễ tái phát. Có khi người bệnh bị kích thích bởi một loại thức ăn nào đó làm cho triệu chứng bệnh nặng thêm, v́ vậy cần chú ư tránh các loại thức ăn ấy, chẳng hạn như bạn không thể uống sữa được th́ phải tránh. Tất cả các thuốc dùng trong 3 tháng đầu của thai kỳ phải rất hạn chế và tuân thủ chặt chẽ chỉ định của bác sĩ. Không rơ bạn đă mang thai được bao nhiêu tháng? Nếu là 3 tháng đầu th́ nên cẩn thận. Những thuốc bạn kể trên chủ yếu có tác dụng tại đường tiêu hóa, rất ít hấp thu vào máu nên nói chung ít ảnh hưởng toàn thân (có thai có thể sử dụng được). Có thể bạn dùng viên sắt lúc bụng đói nên gây khó chịu v́ chúng kích thích dạ dày (nên dùng lúc ăn no), sắt có thể bổ sung cho cơ thể qua nhiều cách như ăn uống, thuốc uống, tiêm,... Bạn nên đến nơi khám và theo dơi thai để được hướng dẫn chi tiết và cụ thể hơn.

BS. ĐẶNG MINH TRÍ