Hỏi Đáp Sức Khoẻ

 Tác giả : SK&ĐS

* NHỮNG TRIỆU CHỨNG CẦN KHÁM PHỤ KHOA

Hỏi: Tôi năm nay 30 tuổi, đă lập gia đ́nh và có 1 con. Cách đây mấy tháng có hiện tượng khó đi tiểu, đau rát ở bàng quang, ra khí hư nhiều, có mùi hôi. Đă dùng thuốc rửa nhưng không hết. Xin bác sĩ cho biết nguyên nhân và hướng dẫn cách chữa trị? (Vân Anh - Hà Nội)

Trả lời: Những triệu chứng bạn mô tả như khó đi tiểu, đau rát ở bàng quang, khí hư ra nhiều và có mùi hôi cho thấy có thể bạn đă bị viêm âm đạo do nấm, do trùng roi (trichomonas) hay do loạn khuẩn, và có thể bị viêm niệu đạo - bàng quang v́ ở phụ nữ những cơ quan này nằm gần kề nhau, dễ gây lây nhiễm chéo. V́ vậy, người ta vẫn khuyên khi làm vệ sinh vùng này, phụ nữ không nên dùng chậu mà dùng ṿi nước chảy để rửa. Về động tác rửa: nên đưa từ trước ra sau để tránh đem vi khuẩn hay nấm gây bệnh từ phía sau ra phía trước. Nhiều trường hợp viêm âm đạo không phải do bệnh lây truyền qua đường t́nh dục mà do nhiễm nấm từ hậu môn. Triệu chứng tiểu khó có thể do ngứa, găi gây phù nề âm hộ, ngoài ra sự nhiễm khuẩn do tiếp giáp cũng có thể gây ra những triệu chứng giống như bị viêm bàng quang, nghĩa là đi tiểu có cảm giác xót. Nhiễm khuẩn bàng quang cũng hay gặp, nhất là ở phụ nữ v́ vi khuẩn dễ xâm nhập qua đường niệu đạo ngắn (chỉ khoảng 2,5cm); và như đă nói, lỗ niệu đạo nằm ở phần trên của âm đạo, ngay cả khi giữ vệ sinh tốt cũng vẫn có vi khuẩn ở trong âm đạo và quanh lỗ niệu đạo; hoặc vi khuẩn từ vùng trực tràng lan sang. Đi tiểu sau giao hợp là cách tốt để pḥng ngừa nhiễm khuẩn bàng quang. Thông thường có thể chỉ là viêm niệu đạo, nhưng khi khám thầy thuốc thường hỏi kỹ các triệu chứng để xác định khu vực nào của hệ tiết niệu bị viêm. Viêm bàng quang có thể chữa khỏi tới 80% trường hợp với các thuốc như trimethoprim (Trimpex) chỉ với một liều duy nhất, hoặc 3-5 ngày trimethoprim/sulfamethoxazole (Bactrim, Septra...), hoặc sulfisoxazole (Gantanol...). Những loại kháng sinh thông dụng khác là cephalexin (Keflex), cefixime (Suprax), cefuroxime (Ceftin, Kefurox, Zinacef). Một số thầy thuốc vẫn ưa dùng Amoxicillin, Ampicillin, Nitrofurantoin và kháng sinh Cephalosporin. Điều trị viêm bàng quang tái phát: Dùng các loại kháng sinh đặc hiệu như Septra, Bactrim hoặc Macrodantin. Nếu vi khuẩn gây bệnh mạnh hơn E.coli như tụ cầu khuẩn, chlamydia hoặc mycoplasma, hoặc phối hợp nhiều loại vi khuẩn th́ cần phối hợp thuốc. Thuốc giảm đau gần như tức khắc gồm có thuốc chống co thắt cơ bàng quang, giảm nhu cầu mót tiểu như hyoscyamine (Cystospaz) hoặc flavoxate (Urispas). Với những triệu chứng trên, bạn cần đến khám ngay ở bác sĩ phụ khoa để xác định đúng nguyên nhân gây bệnh và có cách điều trị thích hợp.

BS. ĐÀO XUÂN DŨNG

* TÁC DỤNG PHỤ CỦA THUỐC TRỊ SUYỄN SERETIDE

Hỏi: Tôi 57 tuổi, bị suyễn đă lâu, thường dùng thuốc suyễn dạng bơm Seretide. Thuốc này rất hiệu quả (chỉ cần bơm một lần cho cả ngày). Nhưng mấy tháng gần đây tôi thường bị nóng mặt, nghẹt mũi, tim đập nhanh và huyết áp tăng cao, có lúc lên đến 15. Xin bác sĩ cho biết có phải là do tác dụng phụ của Seretide gây ra không? Nếu đúng, có cần đổi loại thuốc khác để tránh các triệu chứng nói trên? (Trác Quới Siêu - An Giang)

Trả lời: Seretide dạng phun có chứa 2 chất Fluticasone propionate và Salmeterol. Thuốc Salmeterol là chất chủ vận bêta, có tác dụng giăn phế quản tốt, nhưng lại gây những phản ứng phụ như tim đập nhanh, đau đầu, phù mạch, loạn nhịp tim. C̣n Fluticasone là một loại corticoid, tuy dùng dưới dạng phun ít gây tác dụng toàn thân như các loại corticoid dạng uống, nhưng nếu dùng lâu ngày vẫn có những tác dụng phụ như làm tăng huyết áp, gây bệnh tiểu đường, loăng xương, loét dạ dày... Bạn đă dùng khá lâu thuốc bơm Seretide nên những triệu chứng bạn mô tả đúng là do tác dụng phụ của thuốc gây ra. Do đă lệ thuộc nhiều vào thuốc nên bạn cần từ từ giảm dùng thuốc một cách liên tục và đến khám ở bác sĩ nội khoa để có thể được chỉ định dùng thêm các thuốc hạ áp, hoặc thay thế Seretide bằng thuốc khác nhằm cải thiện phần nào các tác dụng phụ nêu trên.

BS. DƯƠNG MINH HOÀNG

* LOĂNG XƯƠNG Ở PHỤ NỮ MĂN KINH

Hỏi: Tôi năm nay 50 tuổi, vừa qua chỉ ngă nhẹ nhưng bị găy xương cổ chân. Khi khám, bác sĩ cho biết tôi đă bị loăng xương và khuyên nên dùng một số loại sữa đặc biệt. Xin quư báo cho biết thêm loăng xương là ǵ, nguyên nhân và cách điều trị ra sao? (Nguyễn Thị Hồng - Củ Chi).

Trả lời: Có nhiều nguyên nhân gây loăng xương. Song trên thực tế hay gặp ở người cao tuổi (cả nam và nữ) v́ cùng với sự lăo hóa của cơ thể, hoạt động của tế bào tạo xương cũng bị giảm xuống. Đặc biệt phụ nữ sau măn kinh thường bị loăng xương do hậu quả của sự giảm sút tổng hợp hormone sinh dục buồng trứng (estrogen). Tuy nhiên, nếu chú ư th́ có thể pḥng ngừa được. Cấu tạo của tổ chức xương chủ yếu gồm một khung chất hữu cơ, trong đó lắng đọng các chất khoáng vô cơ, đặc biệt là calci. Xương không phải là bất biến mà liên tục đổi mới. Mỗi năm có chừng 20% khối lượng xương được thay thế theo một quy tŕnh tái tạo xương nhờ vào sự cân bằng động giữa 2 loại tế bào gọi là hủy cốt bào (Ostéoclaste) và tạo cốt bào (Ostéoblaste). Khối xương đạt tới đỉnh cao nhất vào tuổi thanh niên, sau đó sự tiêu hao chất calci diễn ra mau hơn. Khung xương c̣n đó, nhưng chất calci giảm làm cho xương bị xốp hoặc thưa, thường gọi là loăng xương. Ở người b́nh thường, từ tuổi 35 trở đi, xương dần dần giảm calci và tiếp tục giảm sau nhiều năm, dẫn đến chứng loăng xương làm xương xốp, gịn, dễ găy. Phụ nữ măn kinh có nguy cơ loăng xương đặc biệt cao, do mức estrogen giảm mạnh, thúc đẩy quá tŕnh xương mất calci nhanh hơn trong ṿng 6-8 năm, sau đó sự mất chất xương diễn ra từ từ. Xương dễ bị găy, nhất là ở các đốt sống. Loăng xương khó chữa, nhưng có thể ngăn ngừa hoặc làm chậm lại. Một trong những phương pháp có khả năng giảm nguy cơ loăng xương ở phụ nữ măn kinh là dùng liệu pháp bổ sung estrogen. Nhưng khi dùng đ̣i hỏi phải được bác sĩ hướng dẫn chu đáo v́ không phải ai, không phải với t́nh trạng sức khỏe nào cũng sử dụng được. Hiện nay, để pḥng chống loăng xương, cách tốt nhất là nên dùng các thức ăn có nhiều chất calci. Nhiều nhà khoa học đă đề nghị những phụ nữ giữa tuổi 25 và 50 nên ăn uống đủ 1.000mg calci mỗi ngày. Theo khẩu phần dinh dưỡng khuyến khích, phụ nữ khi mang thai và cho con bú cần 1.200mg calci/ngày, phụ nữ trên 50 tuổi cần 1.000mg/ngày. Trong các thực phẩm giàu calci th́ sữa là thứ tốt nhất bởi có hàm lượng calci cao, có sự tương quan thích hợp với phospho và magie, giúp cơ thể dễ đồng hóa hấp thu. Một số trường hợp cần thiết có thể dùng các dược phẩm như calcium carbonat, calcium citrat... để trực tiếp cung cấp đủ hàm lượng calci cho cơ thể. BS. VŨ ĐỊNH