Cách chọn phần mềm

CÁCH CHỌN PHẦN MỀM QUẢN LÝ BỆNH VIỆN

Tranh biếm họa kinh điển và đúng đắn về lập trình phần mềm:

  • Hình 1: Khách hàng trình bày ý muốn của mình.

  • Hình 2: Đây là cách trưởng dự án “nắm” vấn đề.

  • Hình 3: Đây là sản phẩm phân tích - thiết kế.

  • Hình 4: Lập trình viên viết code như thế này.

  • Hình 5: Đây là hình ảnh mà nhà tư vấn kinh doanh mô tả về phần mềm.

  • Hình 6: Tài liệu về dự án thì như vầy.

  • Hình 7: Khi cài đặt hệ thống.

  • Hình 8: Khách hàng bị đòi tiền như vầy.

  • Hình 9: Khách hàng được hỗ trợ.

  • Hình 10: Cái mà khách hàng thực sự muốn.

Nhiều bệnh viện đã tự trang bị phần mềm quản lý bệnh viện và trải nghiệm những điều khó khăn trong quá trình ứng dụng. Gặp phải các phần mềm không chuyên nghiệp, thiếu tính năng, sai quy trình làm cho hoạt động bệnh viện trở nên nặng nề, kém hiệu quả.

Hiện nay đã có một số văn bản hướng dẫn tiêu chuẩn để lựa chọn phần mềm QLBV:

  • Tiêu chí chấm điểm bệnh viện, do Bộ Y Tế ban hành, thay đổi chi tiết hàng năm.

  • Văn bản khuyến cáo của Sở Y Tế TPHCM, ghi rất chi tiết về các tiêu chuẩn cần quan tâm khi chọn phần mềm.

Hầu hết các ý trong các văn bản đó được diễn giải trong tài liệu này.

  1. Phần mềm thiếu tính năng

Khi dùng một phần mềm thiếu tính năng, bệnh viện sẽ không thoải mái trong công việc vận hành quản lý bệnh viện. Bệnh viện đòi hỏi phải bổ sung thêm tính năng để đáp ứng thực tế công việc. Tuy nhiên muốn thêm một tính năng mới cho phần mềm không phải là công việc dễ dàng cho cả bệnh viện lẫn nhà cung cấp phần mềm.

Vì các phân hệ phần mềm có liên kết chặt chẽ với nhau nên những thay đổi tính năng phần mềm dù nhỏ cũng đều mang hiệu ứng “bứt dây động rừng”. Sửa chữa hay thêm bớt tính năng này có thể tạo ra vấn đề lỗi khác trầm trọng hơn.

Do phần mềm chưa có đầy đủ tính năng, nhà cung cấp sẽ phải lập trình bổ sung tính năng theo yêu cầu bệnh viện. Đây sẽ là khởi đầu cho một cuộc tương tác “yêu cầu - đáp ứng” giữa 2 bên. Sự tương tác này có thể kéo dài từ nhiều tháng đến nhiều năm và không thấy được thời điểm kết thúc. Bệnh viện vừa thụ hưởng thành quả lao động của lập trình viên đồng thời cũng là tester (kiểm thử) cho nhà cung cấp. Do sự tương tác này mà giữa 2 bên không chỉ là quan hệ khách hàng mà là quan hệ đối tác. Nếu mối quan hệ này tốt thì cả 2 bên đều cùng có lợi. Nếu cả hai bên thiếu kiên nhẫn thì việc “chia tay không vui vẻ” là điều phải xảy ra và thiệt thòi lớn nhất thuộc về bệnh viện vì phải làm lại tất cả từ đầu.

Nhà cung cấp phần mềm có thể đã có một phần mềm đầy đủ chức năng, chạy tốt ở bệnh viện này nhưng có thể sẽ không phủ hợp với bệnh viện khác. Ví dụ: Phần mềm dùng cho tuyến huyện không thể áp dụng cho bệnh viện tuyến tỉnh hay trung ương vì có thể phát sinh ra hàng ngàn yêu cầu và báo lỗi do quy mô, quy trình khác hẳn.

Thuở ban đầu, khi CNTT y tế mới phát triển, hệ thống phần mềm mới bắt đầu trong giai đoạn non trẻ, bệnh viện phải chấp nhận đồng hành cùng nhà cung cấp. Đến nay, sau nhiều năm trải nghiệm thực tế, đã có những bộ phần mềm khá cứng về chức năng và cấu trúc dữ liệu thì bệnh viện không nên lựa chọn các phần mềm còn non kém.

  1. Nhận diện phần mềm kém chất lượng

Tóm tắt


  • Phần mềm kém chất lượng hầu hết là thiếu tính năngsai về chuyên môn y tế.

Trên thị trường phần mềm quản lý bệnh viện hiện nay có khá nhiều công ty tham gia cung cấp phần mềm quản lý bệnh viện. Nhiều trong số đó là những phần mềm không đạt chất lượng, không đủ tính năng đáp ứng nhu cầu thực tế. Sau một thời gian sử dụng, bệnh viện mới… tá hỏa vì các tính năng của nó.

Một số dạng phần mềm kém chất lượng:

  • Phần mềm máy đánh chữ: Phần mềm này chỉ giúp BS gõ đơn thuốc để in ra cho đẹp, thiếu tương tác dữ liệu và thiếu các tính năng tiện ích dành cho người dùng. Ví dụ: bác sĩ kê đơn cho bệnh nhân có thể dùng phần mềm MS Word hay MS Access để nhập liệu và in ra một đơn thuốc rất đẹp, tuy nhiên đơn thuốc này hoàn toàn không thể kiểm tra sự trùng lắp của thuốc hay hoạt chất thuốc và lại càng không kiểm tra được tương tác thuốc hay phát hiện tình trạng bệnh nhân dị ứng với thuốc.

  • Phần mềm thiếu chuyên môn: sự thiếu chuyên môn y tế thể hiện rất rõ ràng trong cách trình bày đơn thuốc, quy trình khám chữa bệnh và lỗi chính tả ngớ ngẩn. Ví dụ: Đơn thuốc không hiển thị được đơn vị cấp phát (viên, lọ, hộp...) và đơn vị liều dùng (giọt, miếng, muỗng...). Có những thuốc đơn vị cấp phát là ống (như Insulin, Heparin) mà đơn vị liều dùng là UI. Khi đơn thuốc không hiển thị đúng thì sẽ gây tai hại chết người cho bệnh nhân.

  • Phần mềm chắp vá do thiếu chức năng: các đơn vị chức năng trong bệnh viện sử dụng nhiều phần mềm khác nhau như: phần mềm thu phí, phần mềm xét nghiệm, phần mềm dược… Các phần mềm này không liên hoàn, liên kết với nhau thành hệ thống. Do không truyền dữ liệu cho nhau nên phải nhập liệu lại nhiều lần, số liệu thường lệch nhau. Ví dụ: Khi bác sĩ kê đơn, bệnh nhân đến quầy thuốc để mua thuốc, nhân viên nhà thuốc phải nhập liệu lại từ đầu đơn thuốc đó vào máy tính. Lẽ ra nhân viên nhà thuốc chỉ cần nhập mã số của đơn thuốc để load lên toàn bộ nội dung đơn thuốc. Đối phó với tình trạng khiếm khuyết này nhà cung cấp thường hứa hẹn chia việc triển khai thành nhiều giai đoạn. Thực tế cho thấy rằng nhà cung cấp chỉ làm giai đoạn đầu và nhận tiền, còn các giai đoạn sau thì lặn mất.

  • Phần mềm vi phạm bản quyền: Nhân viên của một công ty phần mềm QLBV nghỉ việc và ăn cắp phần mềm đó để bán cho bệnh viện khác. Bệnh viện sẽ đối diện với các nguy cơ khi sử dụng các phần mềm này. Điều đầu tiên là các vấn đề tranh chấp pháp lý bản quyền có thể xảy ra khi chủ sở hữu phần mềm tố cáo, khởi kiện kẻ cắp. Khi đó bệnh viện bắt buộc phải dừng sử dụng hệ thống cho đến khi sự việc được giải quyết xong. Điều thứ hai là nhân viên lập trình đó không có khả năng nâng cấp hay sửa đổi hệ thống. Cần biết rằng một hệ thống phần mềm QLBV bao gồm nhiều chức năng, mỗi chức năng do một nhóm chuyên gia phân tích, lập trình, thử nghiệm và theo dõi lâu dài. Không có một lập trình viên nào một mình có đủ khả năng để lập trình cho toàn bộ hệ thống phần mềm quản lý bệnh viện. Do đó, bệnh viện nên yêu cầu “nhà cung cấp" cam đoan về quyền tác giả và quyền chủ sở hữu trước khi nói chuyện tiếp.

  • Phần mềm nhái: Một công ty phần mềm copy ý tưởng của một phần mềm khác và lập trình nhái theo. Điều này dẫn đến nguy cơ là phần mềm đó không mở rộng được tính năng. Giá trị của một phần mềm nằm ở khả năng sáng tạo và mở rộng tính năng theo yêu cầu, theo thời gian. Phần mềm nào chỉ nhái rập khuôn ý tưởng thì chỉ dừng lại ở tính năng hiện có mà không thể có khả năng mở rộng.

  • Phần mềm khung, phần mềm dùng chung: Một số công ty được lợi thế hậu thuẫn từ các cơ quan chủ quản, cho phép triển khai diện rộng, đồng loạt tại nhiều địa phương, cho nhiều quy mô bệnh viện khác nhau. Các phần mềm này gọi là phần mềm khung hoặc phần mềm dùng chung. Thực tế là các bệnh viện rất khác nhau về quy mô, mô hình tổ chức và chức năng hoạt động. Một bệnh viện chuyên khoa mắt ở tuyến trung ương có quy mô hoàn toàn khác một bệnh viện đa khoa tuyến huyện; một bệnh viện chuyên khoa y học cổ truyền hoạt động không giống bệnh viện chuyên khoa sản. Do đó, việc sử dụng phần mềm dùng chung cho tất cả các bệnh viện khác nhau là điều không thể xảy ra. Phần mềm dùng chung có thể được áp dụng cho quy mô một trung tâm y tế có nhiều chi nhánh tại các phường xã để cùng tham gia quản lý dịch bệnh hoặc các chương trình quốc gia.

  1. Các tính năng cần được kiểm chứng khi chọn phần mềm.

Tóm tắt


  • Kiểm chứng phần mềm nên bắt đầu ở đầu ra của sản phẩm, tức là những báo cáo, số liệu phải đủ và chính xác vì đây là yêu cầu quan trọng nhất của phần mềm.

  • Ngoài ra có nhiều tiêu chuẩn khác để đánh giá, kiểm chứng giá trị của phần mềm như tính liên hoàn, tính ổn định, nhiều tiện ích, khả năng tùy biến cao...

Phần mềm QLBV là một hệ thống cực kỳ phức tạp. Nó bao hàm chức năng của một hotel, một siêu thị, một ngân hàng, một đơn vị hành chánh, một thư viện… “Tất cả trong một”. Việc tạo ra một hệ thống quản lý dữ liệu phức tạp như bệnh viện đòi hỏi nhà cung cấp phải “có nghề” và trải nghiệm nhiều tình huống.

Khi trình bày, giới thiệu sản phẩm, nhiều nhà cung cấp sẽ có những lời quảng cáo hoa mỹ, những biểu đồ và những slide show màu sắc tươi đẹp. Tuy nhiên đó không phải là điểm cần quan tâm. Cái bạn cần là xem hệ thống đó hoạt động như thế nào? Đã ứng dụng ở những đâu? Nhận xét của người dùng trực tiếp như y tá, bác sĩ, lãnh đạo… họ cảm nhận như thế nào? Đầu ra của phần mềm là các báo cáo, thống kê có chính xác không? V.v...

Tốt nhất, bạn nên đi tham quan, đặt câu hỏi với người sử dụng ở các bệnh viện đã trang bị phần mềm QLBV. Nếu được, bạn nên có một check-list những câu hỏi sẵn có để phỏng vấn người sử dụng.

Khi xem một hệ thống phần mềm đang hoạt động, bạn đừng chỉ bị thu hút bởi giao diện của phần mềm. Giao diện đẹp không phải là yêu cầu hàng đầu của một phần mềm quản lý bệnh viện mà là chức năng tính toántiện ích cho người dùng.

Các bước kiểm tra hệ thống phần mềm có hoạt động tốt hay không:

  • Điều đầu tiên cần kiểm tra là số liệu báo cáo, thống kê. Số liệu thống kê là kết quả cuối cùng của hoạt động hệ thống. Khi số liệu chính xác thì có nghĩa là đầu vào đầy đủ và xử lý số liệu đã chính xác. Chú ý: phân biệt hệ thống báo cáo và hệ thống thống kê:

    • Hệ thống báo cáo là các biểu mẫu do nhà nước ban hành như Bộ Y Tế, Sở Y Tế, BHYT… Bắt buộc phần mềm sẽ phải có đầy đủ, trọn bộ và chính xác.

    • Hệ thống thống kê là số liệu chi tiết và tổng hợp hoạt động của từng khoa phòng trong bệnh viện. Phần mềm càng có nhiều biểu thống kê, có so sánh đối chiếu càng hay.

  • Xem xét tính liên hoàn của hệ thống. Khi tham khảo phần mềm tại một bệnh viện đang sử dụng, bạn nên đóng vai trò của một bệnh nhân để tiến hành các bước của quá trình khám ngoại trú và nhập viện nội trú. Tại mỗi khâu của quá trình, dữ liệu của bệnh nhân sẽ được chuyển cho khâu tiếp theo cho đến khi hoàn tất.

  • Xem xét các tiện ích (utilities) dành cho người dùng. Việc nhập liệu trên máy tính có thể sẽ làm mất nhiều thì giờ của user. Do đó phần mềm sẽ phải có các tiệc ích dành cho người dùng khi nhập liệu như phím tắt, gõ tắt (shortcut), tự động điền mẫu (template), tự động hoàn tất (auto complete), nhắc nhớ (reminder), hệ thống hỗ trợ quyết định (decision support system DSS), sử dụng mã vạch...

  • Hỏi về tính ổn định (stabilisation) của phần mềm. Kinh nghiệm cho thấy những hệ thống phần mềm thiết kế kém sẽ bị hiện tượng chậm dần hệ thống và đến lúc nào đó sẽ bị sập, treo mạng. Điều này xảy ra là do dữ liệu nhồi vào hệ thống theo thời gian. Hoặc phần mềm đang chạy bình thường bỗng treo ngang. Điều này có thể do dữ liệu nhập vào có ký tự đặc biệt hay nhập số lượng ký tự vượt quá giới hạn cho phép của một trường dữ liệu. Một trong những điều khó chịu khi sử dụng phần mềm là xuất dữ liệu quá chậm. Khi xuất dữ liệu báo cáo BHYT cho 1 tháng, phải mất 15-30 phút hay lâu hơn, thậm chí làm treo mạng.

  • Hỏi về tính tùy biến (customization) của hệ thống khi có yêu cầu thay đổi giao diện, thay đổi báo cáo theo yêu cầu của BHYT hay Bộ Y Tế. Do chính sách BHYT và chính sách y tế đang trong giai đoạn thay đổi để phát triển, bệnh viện sẽ nhận được các yêu cầu thay đổi về hoạt động hay công thức tính BHYT. Phần mềm sẽ phải đáp ứng tốt đối với các yêu cầu này một cách chính xác và nhanh chóng. Những phần mềm thiết kế kém hoặc không có chuyên gia chuyên trách sẽ không có khả năng đáp ứng theo những thay đổi này.

  • Ngoài các điểm quan trọng nói trên, các tính năng khác chỉ mang tính phụ trợ.

  1. Tìm hiểu về xuất xứ của phần mềm.

Tóm tắt


  • Cần phải hiểu rõ xuất xứ của phần mềm khi chọn lựa.

  • Một phần mềm do người trong ngành y tế xây dựng cùng với đội ngũ lập trình viên chuyên nghiệp thì đáng tin cậy về mặt quy trình và chuyên môn hơn người không có kiến thức trong lãnh vực y tế.

Khi mua bất cứ sản phẩm nào, bệnh viện cũng nên xem nguồn gốc, xuất xứ của sản phẩm đó. Một thương hiệu có uy tín sẽ giúp bạn an tâm hơn. Hiển nhiên rằng trên tay bạn có chiếc iPhone chính hãng Apple thì bạn hoàn toàn tự tin so với việc có chiếc điện thoại dỏm hay nhái của Trung Quốc.

Nếu bạn chọn một phần mềm “hàng chợ”, do một nhà cung cấp không tên tuổi, chưa từng qua trải nghiệm thực tế thì bạn sẽ mắc phải các sai lầm sau đây:

  • Nhà cung cấp đó không có kiến thức về lãnh vực quản lý bệnh viện, do đó họ không làm đúng những gì bạn cần. Bạn phải vất vả để “tương tác” với nhà cung cấp đó để họ hiểu ý bạn muốn gì. Cho dù nhà cung cấp đó có tên tuổi lớn trong lĩnh vực Viễn Thông thì đó không phải là nhà cung cấp tốt về phần mềm bệnh viện. Hoặc nhà cung cấp có rất đông lập trình viên, chuyên làm dịch vụ out sourcing cho Nhật Bản thì cũng không phải là nhà cung cấp tốt phần mềm bệnh viện.

  • Nhà cung cấp với tư duy đơn giản, nghĩ rằng phần mềm quản lý bệnh viện cũng chỉ giống như phần mềm quản lý doanh nghiệp. Họ sẽ chỉnh sửa chút chút cái sản phẩm ERP nào đó để nó thành phần mềm quản lý bệnh viện. Càng tham gia sâu, họ càng nhận ra rằng EHM hoàn toàn không giống với ERP và họ sẽ... bỏ chạy. Khi đó BV đành ôm cục nợ phần mềm của họ bỏ lại.

  • Nhà cung cấp chỉ làm chơi cho biết hoặc không đủ năng lực tài chính và nhân sự để đảm đương công việc lập trình và nâng cấp hệ thống một cách dài hơi. Khi mệt mỏi rồi hoặc khi trò chơi hết hấp dẫn thì NCC sẽ bỏ cuộc chơi, và bạn sẽ bị bỏ rơi cùng với phần mềm lạc hậu, vô dụng. Khi có những yêu cầu khách quan như thay đổi chính sách BHYT, bắt buộc phải lập trình lại tính năng cho phần mềm. Khi đó, không còn cách nào khác là bạn phải mua phần mềm khác.

  • Bài học thực tế: Một bệnh viện chuyên khoa Tâm Thần ở thành phố lớn đã mua một phần mềm do một nhà cung cấp không chuyên về CNTT y tế với “giá hữu nghị”. Sau 1 năm vật lộn với sản phẩm này, nhà cung cấp bỏ cuộc chơi, không tiếp tục tham gia mảng phần mềm y tế nữa, trong khi bệnh viện đứng trước yêu cầu nâng cấp hệ thống để đáp ứng các báo cáo của bảo hiểm y tế. Bệnh viện này đành phải bỏ đi phần mềm đang dùng đó để thay bằng một phần mềm khác chuyên nghiệp hơn. Hầu hết các bệnh viện ở Việt Nam và trên thế giới bị rơi vào tình trạng này.

Tuy nhiên, bạn cần cân nhắc kỹ về cái gọi là “thương hiệu”. Bạn cần biết rằng mỗi thương hiệu sẽ chuyên môn về một sản phẩm nào đó. Không có một thương hiệu nào làm tốt được tất cả mọi thứ.

Trên thị trường hiện nay có một ít công ty có “thương hiệu lớn", cái gì cũng nhận làm: trường học, tòa án, doanh nghiệp, bệnh viện, lập trình thuê (out sourcing), bán smart phone và cả bán… sữa. Thực sự thì họ không chuyên về một sản phẩm nào cả và những sản phẩm của họ thường là không xuất sắc về bất cứ lĩnh vực nào, trong khi phần mềm quản lý bệnh viện đòi hỏi các tính năng cao cấp. Trước đây Microsoft và Google đã từng muốn tham gia vào lãnh vực phần mềm bệnh viện nhưng sau đó họ nhận ra rằng đó không phải là sở trường của họ nên lặng lẽ rút lui.

Các công ty chuyên về viễn thông có thể rất ăn nên làm ra trong lĩnh vực viễn thông, nhưng đừng trông chờ ở họ một phần mềm quản lý bệnh viện tốt.

Những chọn lựa phần mềm chỉ vì công ty đó "có thương hiệu lớn" đã mang lại sai lầm tai hại.

Tại TPHCM, một vài bệnh viện lớn đã ký hợp đồng với một công ty thương hiệu lớn Fxx với trị giá khoảng 1 triệu đô la Mỹ riêng cho tiền phần mềm QLBV. Thế nhưng tiền không phải là phép thuật để giúp có phần mềm theo ý muốn. Dự án này đã kéo dài nhiều năm, quá hạn hợp đồng mà không thể đưa vào sử dụng thực tế được, không thể nghiệm thu.

Tại Anh Quốc, nhà nước đã đầu tư cho dự án y tế điện tử quốc gia trong thời gian 10 năm từ 2002 đến 2012 với giá trị 20 tỷ bảng Anh. Bốn (4) nhà thầu quốc tế cùng tham gia dự án này. Tuy nhiên đến năm thứ 8, đã chi hết 80% số tiền nhưng sản phẩm thu được chưa tới 10% yêu cầu. Do đó, dự án này bị phá sản.



Chiếc kéo y khoa khác chiếc kéo thường.

Sợi chỉ y khoa khác sợi chỉ thường.

Phần mềm quản lý y khoa cũng vậy, khác với phần mềm thường.


Không hiểu y khoa mà làm phần mềm y khoa thì chỉ mang lại HẬU QUẢ chứ không mang lại HIỆU QUẢ.


Khách hàng phải chọn phần mềm CHUYÊN NGHIỆP


Bạn hãy tìm hiểu trên thị trường những thương hiệu nào chỉ chuyên tâm vào một lãnh vực lập trình phần mềm dành cho bệnh viện.

Khi tìm kiếm trên mạng với cụm từ “phần mềm quản lý bệnh viện” bạn sẽ thấy có một số chừng 30 công ty lập trình phần mềm cho bệnh viện, tuy nhiên, bạn phải xem xem các công ty đó có chuyên tâm làm phần mềm quản lý bệnh viện không, người thiết kế phần mềm có phải là bác sĩ y khoa hay không, thâm niên kinh nghiệm của công ty đó là bao lâu rồi, số lượng khách hàng của công ty đó có đông không.


Khoan hãy quan tâm đến yếu tố giá cả. Điều bạn cần quan tâm là chất lượng phần mềm và dịch vụ hậu mãi.


Bạn cũng có thể tham khảo một số phần mềm ở nước ngoài. Có vẻ như là bạn tin rằng phần mềm của Singapore, của Hàn Quốc hay của Nhật thì sẽ tốt hơn phần mềm có xuất xứ Việt Nam. Điều đó có thể đúng ở lĩnh vực khác, tuy nhiên, ở lĩnh vực phần mềm quản lý bệnh viện thì điều này không đúng tí nào. Đơn giản là vì những công ty ở nước ngoài không hiểu gì về y tế Việt Nam, họ không hiểu được các chính sách y tế hoặc những thay đổi chính sách BHYT ở Việt Nam. Các công ty nước ngoài này không thể theo bệnh viện để đáp ứng các thay đổi hầu như hàng ngày về các chính sách y tế.

Một số công ty phần mềm quản lý bệnh viện có tiếng của Mỹ: EPIC, Cerner, Allscripts…

http://www.curemd.com/top-ehr-vendors/

  1. Tìm hiểu về tác giả phần mềm.

Tóm tắt


  • CNTT chỉ là công cụ để phục vụ cho một lĩnh vực nào đó. Việc xây dựng CNTT cho ngành y thì cần tác giả là người am hiểu ngành y. Do đó tác giả của phần mềm QLBV nên là một người hoạt động trong ngành y tế.

  • Tác giả phải có kiến thức tổng hợp cả 3 lĩnh vực:

    • Y khoa lâm sàng,

    • Y khoa quản lý và

    • CNTT.

Một nhóm thợ xây có thể cùng nhau xây dựng một căn nhà theo yêu cầu của chủ đầu tư. Tuy nhiên, nhóm thợ xây tay ngang này không thể tạo nên một căn nhà có giá trị như căn nhà có bản vẽ của kiến trúc sư.

Hệ thống phần mềm quản lý bệnh viện cũng vậy, đòi hỏi tác giả phải là một “kiến trúc sư" có trình độ chuyên môn, có hiểu biết, phối hợp trong 3 lĩnh vực: Y khoa lâm sàng, Y khoa quản lý và Kiến thức công nghệ thông tin. Có được 3 điều đó cũng chưa đủ, còn phải có thêm một quá trình trải nghiệm áp dụng phần mềm ở các bệnh viện lớn nữa.

Y khoa lâm sàng là kiến thức mà sinh viên y khoa sau 6 năm học sẽ nắm rõ.

Y khoa quản lý là kiến thức mà các nhà quản lý bệnh viện đã được đào tạo để hiểu rõ về tổ chức y tế và quản lý hoạt động nhiều mặt của bệnh viện.

Kiến thức công nghệ thông tin là chất liệu để xây dựng phần mềm theo kiến thức y khoa lâm sàng và y khoa quản lý kia.

Bệnh viện mời một tay ngang vào làm phần mềm thì sẽ phải mất công giải thích cho nhà cung cấp đó những kiến thức cần thiết của 6 năm y khoa và nhiều năm thực tế lâm sàng. Lập trình viên sẽ không thể hiểu được các thuật ngữ y khoa như lâm sàng, cận lâm sàng, nội khoa, ngoại khoa, phẫu thuật, thủ thuật, giải phẫu bệnh, sinh hóa, hoạt chất, họ trị liệu… Nhiều lập trình viên hiểu “bác sĩ ngoại khoa” là bác sĩ trị bệnh... ngoài da. Vì vậy, bệnh viện phải giải thích quy trình, tổ chức bệnh viện để lập trình viên hình dung ra được vấn đề trước và trong khi làm việc.

Với những công việc đó, bệnh viện mất đi một hay nhiều nhân sự chuyên môn để “hầu” nhà cung cấp. Tuy nhiên chưa chắc rằng NCC sẽ lãnh hội được các kiến thức đó và làm đúng yêu cầu.

Thông thường thì sau khi tiếp cận với các kiến thức thuật ngữ, quy trình y khoa và va chạm với sự vất vả, các nhà cung cấp ngoài ngành này thường nản chí, bỏ rơi khách hàng để đi tìm con đường khác dễ ăn hơn.

Tình trạng này không phải chỉ xảy ra ở Việt Nam mà xảy ra ở nhiều nơi trên thế giới. Ngay cả các nước tiên tiến có nhiều tiền như Mỹ, Anh Quốc, Canada hay Úc cũng bị rơi vào tình trạng này.

  1. Chọn phần mềm từ một công ty chuyên nghiệp

Công ty chuyên nghiệp là công ty đã trải nghiệm thực tế lâu năm, có tổ chức, có quy trình hoạt động chặt chẽ. Công ty chuyên nghiệp không phải là một công ty có nhiều nhân viên mà là có đủ chức năng và kinh nghiệm.

  • Nhà phân tích: nhà phân tích là người am hiểu về lĩnh vực mình làm. Tất nhiên một người bình thường thì không thể làm đúng công việc của kế toán viên. Do vậy nhà phân tích phải am tường về lãnh vực y tế, hoạt động và tổ chức y tế để nắm bắt ngay ý tưởng, ý muốn của khách hàng, tư vấn cho khách hàng những điều cần làm có lợi nhất.

  • Nhà thiết kế: đôi khi nhà phân tích cũng là nhà thiết kế. Nhà thiết kế sau khi nắm được nội dung, chi tiết yêu cầu, sẽ phải hình dung ra quy trình và các vấn đề phát sinh khi hệ thống vận hành. Những bản phân tích, bản vẽ, sơ đồ, quy trình… được vẽ ra một cách trực quan từ đầu đển cuối trước khi đi vào lập trình. Nhà thiết kê phải trao đổi ý kiến với khách hàng như một kiến trúc sư trao đổi với chủ nhà. Bệnh viện là môi trường hoạt động phức tạp, do đó sẽ có những nhà thiết kế riêng cho từng khu vực chức năng: viện phí, lâm sàng, cận lâm sàng, quản lý dược… Mỗi nhóm chức năng sẽ có tính chuyên nghiệp riêng, tương tự như trong lãnh vực xây dựng có người chuyên về phần thô, có người chuyên về phần hoàn thiện công trình.

  • Lập trình viên: là những người bắt tay vào code hóa hệ thống. Những lập trình viên tốt đòi hỏi những tiêu chuẩn riêng như bề dày kinh nghiệm lập trình, kiến thức lập trình, cách vận dụng phương pháp lập trình mới… Lập trình viên mặc dù làm theo bảng phân tích thiết kế có sẵn, tuy nhiên phải có đủ trình độ tư duy để phát hiện ra những điều vô lý để phản biện với nhà thiết kế. Lập trình viên phải lường hết tình huống, đếm hết các khả năng có thể xảy ra và xử lý hết các tình huống. Nếu bỏ sót tình huống thì hệ thống sẽ chạy sai. Trong hệ thống quản lý BV, 2 nhóm chức năng quan trọng mà thường xảy ra sai sót nhiều nhất là Viện phí và Dược. Ở 2 nhóm chức năng này có nhiều chi tiết tính toán, nhiều kho lưu trữ hàng hóa, nhiều quy trình xuôi ngược… Do vậy, lập trình viên không kiểm soát hết tình huống thì số liệu sẽ lệch lạc.

  • Tester: đây là nhân vận quan trọng và "khó ưa" nhất trong công ty. Đối với một công ty non trẻ, không có tester. Lập trình viên luôn luôn tự tin về sản phẩm lập trình mà mình đã làm, gửi thẳng sản phẩm đến tay user. User bệnh viện sẽ sử dụng phần mềm và phát hiện lỗi, báo lỗi về cho lập trình viên sửa lỗi. Đôi khi lỗi mẹ đẻ lỗi con, sửa chỗ này sẽ lòi ra chỗ khác. Việc báo lỗi và nhận lỗi nhiều sẽ làm cho nhà cung cấp mất uy tín. Điều thảm họa sẽ xảy ra khi các lập trình viên chia việc cho nhau không có hệ thống quản lý. Mỗi lập trình viên tư duy theo cách khác nhau, xử lý mà không thông báo, không lưu vết1… Đến một lúc nào đó phần mềm trở nên rối loạn đến mức không thể lần ra manh mối. Khi này mới thấy hết vai trò của tester. Tester là bộ phận kiểm tra chất lượng sản phẩm đầu ra. Tester là những nhân vật kỳ quái, họ sử dụng phần mềm không theo cách mà lập trình viên định sẵn. Họ nhập liệu theo cách riêng của họ, họ đi ngược chiều, bất chấp quy tắc đã định, họ đóng vai của một người vừa ngờ nghệch, vừa tinh ma. Những thao tác của tester sẽ làm phát sinh ra lỗi. Có những phần mềm mà lập trình viên xem là hoàn hảo, nhưng qua tay tester sẽ bộc lộ ra không biết bao nhiêu là vấn đề cần xử lý. Tester phải là người tiếp cận bản yêu cầu tính năng, bản phân tích thiết kế để kiểm tra xem phần mềm có đáp ứng đúng yêu cầu hay không. Tester có kỹ năng, được đào tạo và có công cụ để thực hiện công việc test phần mềm. Tester không chỉ kiểm tra về số liệu, quy trình mà còn kiểm tra về giao diện, tính hợp lý, chuẩn dữ liệu… Sự khó tính của tester làm cho lập trình viên khó chịu, thậm chí xung đột nhưng LTV bắt buộc phải làm theo nếu muốn yên thân. Tester chịu trách nhiệm về tính năng cuối cùng trước khi đưa sản phẩm đến tay khách hàng. Một công ty phần mềm mà không có tester chuyên nghiệp thì sẽ không cho ra sản phẩm tốt.

Một trong những khâu quan trọng trong thời gian triển khai là test tại server của bệnh viện. Trong quá trính làm việc với nhau, LTV và tester có thể làm việc trên một máy tính của công ty, nhưng khi triển khai thì bộ nguồn trên máy chủ bệnh viện là một bộ khác. Do đó, tester phải kiểm tra toàn hệ thống trên máy chủ bệnh viện trước khi cho chạy thực tế. Kinh nghiệm cho thấy việc hấp tấp update source code mà không qua tây tester thì sẽ dẫn đến hậu quả nghiêm trọng về số liệu.

  • Triển khai viên: nhân viên triển khai là người chuyển giao cách sử dụng phần mềm, giao tiếp với bệnh viện… Triển khai viên phải nắm chắc tính năng hệ thống phần mềm và có kỹ năng hướng dẫn sử dụng. Triển khai viên cần phải chuẩn bị tài liệu, clip để phát cho user. Nhân viên triển khai còn phải biết cài đặt server, cấu hình hệ thống, hiểu tính năng browser, am tường quy trình… Do phần mềm quản lý bệnh viện rất phức tạp, đồ sộ nên cần phải có triển khai viên chuyên hướng dẫn cho từng nhóm chức năng. Một triển khai viên không thể biết hết tất cả, do vậy khi triển khai thì thường là một nhóm chuyên gia. Nhân viên triển khai chuyển yêu cầu của BV và báo lỗi về cho lập trình viên xử lý. Các nhân viên triển khai phải lão luyện, có sức chịu đựng trước búa rìu chỉ trích của user khi phần mềm có lỗi, có sự cố… Triển khai viên phải chịu đựng nhiều áp lực hơn các thành viên khác vì phải đối đầu trực diện với thực tế, phải sống xa nhà trong điều kiện không quen thuộc… Nếu bệnh viện hỗ trợ hết mình thì sẽ nhận được nhiều lợi ích từ các triển khai viên.

  • Kinh nghiệm triển khai: công ty đã từng triển khai ở bệnh viện lớn, đa khoa, phức tạp sẽ có kinh nghiệm với các vấn đề hóc búa. Do bệnh viện rất đa hình, đa dạng về tổ chức, quy mô, chuyên khoa và quy chế hoạt động nên một công ty có kinh nghiệm triển khai ở quy mô tuyến huyện sẽ có thể thất bại ở quy mô lớn hơn hoặc bệnh viện chuyên khoa.

  1. Phần mềm lão luyện

Các phần mềm mới ra lò thường là các phần mềm non kém, thiếu khuyết chức năng và nhiều lỗi kỹ thuật. Các phần mềm từng trải nghiệm ở các bệnh viện lớn sẽ phải cọ sát với thực tế, thêm nhiều tính năng và khắc phục lỗi từ đơn giản đến phức tạp.

Một phần mềm đã áp dụng cho bệnh viện lớn hoặc đa khoa sẽ dễ dàng cắt gọt để chạy tại các bệnh viện có quy mô nhỏ. Ngược lại, phần mềm đã áp dụng tốt ở bệnh viện có quy mô nhỏ thì khó có thể áp dụng được cho một bệnh viện lớn.

Khi áp dụng phần mềm vào hoạt động thực tế tại bệnh viện lớn, sự tương tác, phản hồi qua lại giữa bệnh viện và nhà cung cấp phần mềm sẽ làm tăng tính năng, tăng tính ổn định và khắc phục lỗi lập trình hoặc xử lý tình huống phát sinh. Trong suốt quá trính triển khai, vận hành, sau 1-2 năm một bệnh viện có thể nêu ra từ 1.000 đến 2.000 vấn đề cần xử lý. Có những vấn đề chung giữa các bệnh viện, cũng có vấn đề rất riêng của từng bệnh viện. Khi phần mềm đã trải nghiệm qua các vấn đề thì khách hàng mua sau sẽ đỡ phải gặp lại các vấn đề đó.

Như vậy, khi chọn lựa phần mềm thì không phải chỉ xem xét ở số lượng tính năng mà phần mềm có mà phải xem xét luôn cả các vấn đề tiềm ẩn đã được xử lý thực tế bao giờ chưa.

Ngày nay, khi chảo hàng phần mềm đến các bệnh viện, các nhân viên y tế không đặt câu hỏi về tính năng phần mềm có gì mà thường hỏi xem phần mềm có mắc những cái lỗi mà họ đang gặp phải trong phần mềm họ đang sử dụng mà muốn thay thế hay không.

Những vấn đề mắc mứu thường ít khi xảy ra ở các phân hệ mang tính kỹ thuật như xét nghiệm hay chẩn đoán hình ảnh mà thường xảy ra ở các phân hệ viện phí và dược. Các phân hệ này có các công thức tính toán và xử lý tình huống. Phần mềm phải dự trù và có giải pháp xử lý cho các tình huống khác nhau.

Với phần mềm lão luyện, không nhất thiết là phải có nhiều khách hàng sử dụng hơn các phần mềm khác trên thị trường mà là tính chuyên sâu cho mỗi bệnh viện. Phần mềm lão luyện phân tích và xử lý đến tận tường ngóc ngách các vấn đề của một bệnh viện và lưu lại cách xử trí đó cho các bệnh viện khác. Thời gian trải nghiệm càng lâu thì sự tích lũy kinh nghiệm càng dày.

Một số công ty có quy mô lớn về nhân sự, khi có nhiều khách hàng thì chia quân ra thành từng "team" để xử lý. Những team này hoàn toàn mới mẻ đối với công việc được giao phó. Họ chưa từng trải nghiệm các vấn đề thực tế và đi lại từ đầu những bước đi đầu tiên. Các team này dễ nản chí sau một thời gian gặp khó khăn và bỏ cuộc. Các phần mềm do các team này tạo ra luôn luôn ở trong tình trạng thuyết khuyết tính năng và chứa đựng nhiều vấn đề tiềm ẩn.

  1. Chọn phần mềm mở hay không mở?

Tóm tắt


  • Phần mềm nguồn mở không đồng nghĩa với phần mềm miễn phí.

  • Yếu tố miễn phí không phải là yếu tố quan trọng. Quan trọng là phần mềm mang lại giá trị gì cho bệnh viện.

Nhà nước và bộ Thông tin truyền thông khuyến khích các bệnh viện sử dụng phần mềm nguồn mở. Ở đây có nhiều sự nhầm lẫn về chữ “mở” này. Chúng ta cần hiểu rõ để không bị nhầm lẫn.

Điều mà ta quan tâm khi nói đến nguồn mở bao gồm: miễn phí và có thể sửa đổi code theo ý muốn.

Điều đầu tiên cần nói rõ: Phần mềm nguồn mở không đồng nghĩa với phần mềm miễn phí. Có phần mềm đóng nhưng vẫn miễn phí và có phần mềm mở nhưng phí rất cao. Do đó, không nên vì lý do miễn phí mà nói đến mở hay không mở. Ý nghĩa của mở ở đây được hiểu là có thể thay đổi tính năng phần mềm theo yêu cầu thực tế. Mở ở đây không liên quan đến ngôn ngữ lập trình hệ LAMP.

Đọc thêm: (Các bác sĩ không quan tâm đến kỹ thuật thì không cần đọc).

Nguồn mở:

Nguồn mở ban đầu theo ý nghĩa là bản quyền tự do (copyleft), mọi người có khả năng lập trình đều có thể lấy source code để tham gia chế biến tính năng cho phần mềm. Nhóm bản quyền tự do này ngược với nhóm có bản quyền (copyright).

Đối với phần mềm web, nhóm bản quyền tự do này thuộc hệ LAMP (Linux, Apache, MySQL, PHP). Những người tham gia hệ này thường là các lập trình viên thích khám phá. Ai cũng có quyền tham gia phát triển trên hệ thống chung và chia sẻ cho người khác hưởng thụ thành quả của mình. Tuy nhiên, mặc dù nhiều thương hiệu lớn như FaceBook, Google đang sử dụng hệ LAMP để cung cấp dịch vụ cho cộng đồng lớn, điều đặc biệt nguy hiểm của “hệ phái” này lại phát xuất từ tính mở của nó. Nếu không phải là những tập đoàn CNTT “có nghề" để sử dụng LAMP một cách an toàn và hiệu quả thì những sản phẩm của các tay ngang có thể mang lại tai họa. Vì là nguồn mở nên ai cũng có thể hiểu rõ về lỗ hổng lập trình để lợi dụng. Thậm chí các hacker còn tạo sẵn lỗ hổng để người dùng mắc bẫy. Thời gian qua đã có hàng loạt website của chính phủ bị hack chỉ vì dùng các website được thiết kế bằng PHP và MySQL hoặc một mã nguồn “mở” khác mà không quan tâm đến vấn đề lỗ hổng bảo mật.

Ngoài ra việc sử dụng hệ điều hành LINUX trong nội bộ cơ quan đã thể hiện nhiều bất lợi: thiếu nhân viên quản lý chuyên nghiệp, trường lớp chính quy ít đào tạo nhân viên theo mảng này trong khi hầu hết các trường lớp đều đạo tạo theo chương trình của Microsoft. Dễ dàng tìm/thay thế nhân viên lập trình và quản lý theo Windows hơn là hệ LAMP.

Tuy vậy, tất cả những thuận lợi và khó năng này đều không tồn tại khi hệ thống được chuyển lên Cloud. Nhà cung cấp Cloud đảm bảo về mọi mặt an toàn và chăm sóc hệ thống mạng.

Nguồn đóng:

Để trang bị một hệ quản trị máy chủ của Microsoft như Microsoft Windows Server và SQL server thì bạn phải trả phí bản quyền. Nhà cung cấp danh tiếng Microsoft sẽ phải chịu trách nhiệm về việc bảo mật cũng như tính ổn định hệ thống cho bạn. Bạn cũng đừng nên bẻ khóa phần mềm của Microsoft. Họ không ngu đến mức để bạn xài chùa mà không phải nhận hậu quả xấu nào. Đối với những phiên bản không có bản quyền, Microsoft vẫn kiểm soát được và không cung cấp các dịch vụ nâng cấp hay vá lỗi cho bạn. Thật sự thì những nâng cấp hay vá lỗi này Microsoft đã tạo ra từ trước và họ chỉ cung cấp cho những người mua sản phẩm có trả tiền. Việc trả tiền bản quyền cho Microsoft là xứng đáng đồng tiền bát gạo.

Hiện nay các trường đào tạo CNTT ở Việt Nam hầu hết đào tạo sinh viên và lập trình viên theo các tiêu chuẩn của Microsoft. Hầu hết người dùng đã quen thuộc giao diện Windows. Do vậy, việc tham gia lập trình, quản lý hệ thống, cũng như sử dụng của người dùng sẽ thuận lợi hơn rất nhiều so với các hệ điều hành máy chủ khác.

Bẻ khóa, xài chùa:

Một nhà cung cấp thiếu tự trọng nào đó có thể khuyên bạn chơi ăn gian bằng cách dùng hệ quản trị cơ sở dữ liệu của Oracle bẻ khóa để xài. Oracle là một hệ quản trị cơ sở dữ liệu mạnh và nhiều tính năng xử lý dữ liệu lớn, tuy nhiên giá của cơ sở dữ liệu Oracle rất chát, tính phí theo năm. Nếu mua bản quyền thì bạn sẽ trở thành con nợ suốt đời cho Oracle. Nếu không mua bản quyền mà chơi bẻ khóa thì bạn là người không liêm chính, vi phạm tác quyền và có nguy cơ nhận tai họa do dùng phần mềm không bản quyền đó. Không nên bẻ khóa và cũng chẳng nên bỏ tiền ra mua như vậy.

MySQL là hệ cơ sở dữ liệu miễn phí. Tuy nhiên chỉ miễn phí đối với các phiên bản nhỏ, không có công cụ hỗ trợ phát triển. Các phiên bản chuyên nghiệp thì vẫn có giá của nó, không miễn phí hoàn toàn như mọi người vẫn nghĩ. UNIX mua lại bản quyền MySQL với giá 1 tỷ USD không phải để cho không.

Xem xét ý nghĩa nguồn mở theo ý là phần mềm có khả năng mở rộng/sửa chữa tính năng khi cần thiết. Đây là ý nghĩa tốt, biết lo xa. Phần mềm vừa được thiết kế trên nền tảng LAMP, vừa có chức năng được mở để tinh chỉnh, phát triển thêm về sau là lý tưởng nhất.

  1. Chọn phần mềm Windows application, Web application hay Cloud?

Tóm tắt


  • Windows app, Web-based app và Cloud app là những bước tiến hóa về mặt kỹ thuật của phần mềm QLBV.

  • Cloud là kỹ thuật quản lý dữ liệu được ưa chuộng hiện nay vì những tiện ích vượt trội của nó.

Windows application: Trước đây người ta quen mặt với các phần mềm được cài đặt (install) vào máy tính. Ví dụ: bộ phần mềm Microsoft office, hoặc bộ phần mềm Photoshop dùng để chỉnh sửa ảnh. Đó là các phần mềm Windows application. Window application là thế hệ phần mềm của giai đoạn đầu phát triển CNTT khi mà internet chưa phát triển mạnh. Có cài thì có xài, không có cài thì không có để sử dụng.

Web application: Khi internet phát triển, các website không chỉ mang tính năng phát hành thông tin một chiều mà người xem có thể tương tác, đối thoại với nhà quản lý trang web. Xa hơn, người ta lập trình các ứng dụng, thực thi một yêu cầu công việc chạy trên nền web gọi là web application.

Đối với các ứng dụng web này thì bạn không cần cài đặt gì trên máy trạm. Phần mềm và dữ liệu được đặt tại máy chủ, người dùng chỉ cần câu vào máy chủ để sử dụng.

Nhiều ưu thế khi sử dụng phần mềm Web so với phần mềm Windows:

  • Không cài đặt trên máy trạm nên không cần phải đòi hỏi máy trạm “xịn". Nghĩa là cấu hình máy tính thường thường cũng có thể chạy được phần mềm. Dùng web application sẽ đỡ tốn phí trang bị ban đầu.

  • Không gián đoạn công việc khi máy trạm hư: Hãy tưởng tượng một bác sĩ đang siêu âm thai sản, bỗng dưng máy tính bị hư, công việc gián đoạn. Bác sĩ phải dừng việc để chờ nhân viên vi tính mang máy tính mới đến thay thế và chờ cài đặt lại phần mềm. Với phần mềm mạng, khi gặp tình huống máy trạm hư thì có thể chuyển sang máy trạm khác để làm việc ngay lập tức như không có chuyện gì xảy ra.

  • Truy cập từ xa: Bằng cách truy cập wifi vào máy chủ, bác sĩ có thể vừa ngồi căn tin uống cafe, vừa xem bệnh án và kê đơn thuốc. Bác sĩ giám đốc có thể vừa đi hội nghị ở Mỹ, vừa giám sát tình hình hoạt động bệnh viện từ xa.

  1. Cloud - điện toán đám mây:

Với xu hướng internet hóa hiện nay, phần mềm web sẽ giúp bạn có khả năng liên kết, trao đổi dữ liệu với các bệnh viện khác một cách tương tác trong thời gian thực. Tương tác ngày càng phức tạp và dữ liệu ngày càng phình to đòi hỏi phải có hệ thống phần cứng mạng đủ mạnh để xử lý hết mọi vấn đề. Khi đó cloud ra đời.

Trên nền tảng điện toán đám mây này, nhiều ứng dụng PC trước đây được đưa hết lên hệ thống máy chủ cloud.

Ví dụ: Trước đây muốn nhận email thì ta dùng phần mềm Outlook hay Eudora. Dữ liệu email nằm ngay trong máy tính của mình. Điều bất tiện là chỉ khi ngồi vào máy PC hay laptop của mình thì mới check mail, gửi mail được. Ngày nay ít người còn dùng hộp thư kiểu đó mà hầu hết xài Gmail, Yahoo mail, Hotmail… Ta có thể kiểm tra hộp thư, gửi thư ở bất kỳ máy tính nào có nối mạng internet. Dữ liệu thư tín của bạn nằm “ở đâu đó trên mạng" mà bạn không hề biết.

Hình minh họa: Web application ứng dụng Cloud. (Ảnh sao chép từ Internet)

Nhiều phần mềm ngày nay được lập trình để chạy trên máy chủ mạng. Người dùng chỉ cần truy cập vào tiện ích đó trên mạng để dùng như soạn thảo văn bản, lập bảng tính, chơi game, chỉnh sửa ành… Các hình ảnh ta chụp được, ngày xưa thường mang cất vào máy tính. Nay không cất vào máy tính nữa mà gửi vào cloud như Flickr, Dropbox hay iCloud…

Có 2 dạng cloud chính: Public và Private (còn 2 dạng khác là Cloud community và Coud hybrid, không quan trọng). Các thuật ngữ này có thể thay thế cho InternetIntranet. Những gì bạn gửi vào Public thì mọi người có thể truy cập và sử dụng tùy ý. Còn nếu bạn giữ trong mạng riêng (Private) thì chỉ có bạn hoặc nhóm của bạn được truy cập.

  1. Phần mềm quản lý bệnh viện có… cloud không?

Tóm tắt


  • Cloud là bước kỹ thuật mới nhất tại thời điểm hiện nay cho phần mềm QLBV.

  • Chắc chắn bước tiến hóa của CNTT y tế là sử dụng cloud.

Tất nhiên là có và phải là có. Người ta không còn muốn phụ thuộc vào một chiếc PC hay laptop nữa. Một bệnh viện có dữ liệu ngày càng phình to. Một tổ chức quản lý y tế muốn có số liệu y tế cộng đồng lập tức và đầy đủ... Do đó việc dùng cloud là khuynh hướng thời đại. Không cài đặt gì hết, chỉ cần truy cập và sử dụng.

Cloud nội bộ:

Có những phần mềm được ký gửi trên một máy chủ internet. Bệnh viện chỉ cần đăng ký và sử dụng thông qua đường mạng internet. Không tốn tiền mua máy chủ, không mất công cài đặt. Chỉ cần được huấn luyện và sử dụng. Tuy nhiên, đây là một điều cực kỳ rủi ro. Cần nhớ rằng hoạt động của một cơ quan bệnh viện khác hoàn toàn với việc bạn chơi ảnh, chơi game hay gửi thư trên mạng. Bạn có thể upload hay download ảnh không lúc này thì lúc khác, không nơi này thì nơi khác. Nhưng bạn không thể dừng công việc của bệnh viện khi hệ thống bị treo hoặc đường truyền gặp sự cố. Do đó, tuyệt đối không dùng phần mềm cloud kiểu ấy. Không nên đặt hệ thống máy chủ ở ngoài bệnh viện mà cần có một cloud nội bộ.

Đối với một bệnh viện lớn thì một phần mềm được cài đặt vào máy chủ riêng của bệnh viện, chạy intranet là một lựa chọn đúng đắn nhất. Máy chủ intranet sẽ được cài đặt phần mềm và dữ liệu. Các máy trạm (client) sẽ câu vào máy chủ để chạy phần mềm. Sẽ không có hacker nào xâm nhập vào máy chủ intranet để ăn cắp thông tin bệnh viện hay bệnh nhân. Tất nhiên, đồ làm ăn và đồ để chơi là khác nhau, đừng để nhân viên cắm USB hay đút đĩa CD vào máy trạm. Máy chủ có thể bị tổn hại vì virus hoặc một phần mềm trojan nào đó.

Cloud internet:

Khi có một hệ thống cloud đáng tin cậy từ những nhà cung cấp có uy tín như Microsoft, IBM, Amazon… thì các vấn đề về an ninh, không gian lưu trữ không cần phải quan tâm đến. Nhiều ưu thế được nêu ra khi ứng dụng QLBV trên cloud:

  • Máy chủ: Bệnh viện không cần trang bị các loại máy chủ riêng như máy chủ cho phần mềm, máy chủ database, máy chủ dự phòng…

  • Máy trạm: các máy trạm có thể dùng loại Chrome book, không ổ cứng, không hệ điều hành. Chỉ cần có tính năng kết nối internet. Điều này giúp tiết kiệm chi phí.

  • Nhân sự: Bệnh viện không cần phải thuê một đội ngũ kỹ sư mạng để lo cho sự vận hành của hệ thống máy chủ đó.

  • Phần mềm: Bệnh viện không cẩn phải đầu tư trọn gói cho hệ thống mạng máy tính và phần mềm.

  • Bảo trì: Bệnh viện sẽ không phải tốn phí bảo trì, bảo hành cho cả hệ thống phần cứng và phần mềm.

  • Internet: Điều mà bệnh viện cần làm là có một hệ thống internet bảo đảm liên tục kết nối.

  • Chi phí: Chi phí thuê phần mềm theo kiểu trả tiền điện, xài tới đâu trả tiền tới đó. Chi phí thuê bao gồm thuê sử dụng phần mềm và chi phí chiếm dụng dữ liệu mạng.

Đối với phần mềm được thiết kế chạy Cloud thì sẽ còn nhiều tính năng ưu việt khác.

  • Không cần cài đặt riêng cho từng bệnh viện. Muốn sử dụng phần mềm chỉ đăng ký user như ta dùng với FaceBook.

  • Các tính năng phần mềm được thiết kế trên từng tiểu chức năng (API).

  • Phần mềm có thể chạy trên mọi trình duyệt.

  • Phần mềm có thể được truy cập bất cứ đâu trên thế giới.

  • Không thể bị nhiễm virus, ramsomware.

  • Không bị treo hệ thống mạng khi có nhiều user truy cập đồng thời.

  • Không bị treo hệ thống mạng khi dữ liệu phình to.

Các giá trị có thể khai thác từ Cloud:

  • Kết nối liên viện.

  • Đồng bộ hóa quy trình toàn quốc.

  • Quản lý bệnh viện trực tuyến.

  • Giám sát ở cấp độ cao online và realtime.

  • Giảm tải bệnh nhân nhờ đặt hẹn khám.

  • Ứng dụng Telemedicine bằng cloud.

  • Thiết lập mạng xã hội về sức khỏe.

  • Các bệnh viện vùng sâu, vùng xa, hải đảo sẽ được sử dụng phần mềm quản lý bệnh nhân và telemedicine.

  • ...

Chọn Cloud nào?

Nếu là một bệnh viện lớn, có nhiều dữ liệu thì dùng Private Cloud sẽ tốt hơn.

Nếu là những bệnh viện nhỏ như tuyến xã, tuyến huyện và các địa phương vùng sâu, vùng xa, hải đảo… thì việc lựa chọn Public Cloud là tối ưu.